Bay Cao và Bay Xa – Fly High and Fly Far

May 9, 2009

Từ tên công ty tới chiến lược hoạt động – góc nhìn khởi nghiệp

Filed under: Business, Khởi nghiệp, Vietnamese — doqkhanh @ 8:27 AM

Tản mạn

Hiện tại tôi đang làm việc tại www.gnt.co.jp, một công ty về nội dung cho điện thoại di động tương đối mạnh của Nhật Bản, với doanh thu hằng tháng lên tới >4 triệu đô la. Và câu hỏi luôn luôn được tôi đặt ra trong đầu là: có thể học được gì từ công ty này? Trong quá trình giải đáp khúc mắc trên, tôi đã nhận ra rất nhiều điều, hôm nay xin chia sẻ với các bạn về vấn đề nhỏ nhất: tên công ty và khẩu hiệu của công ty.

Tên công ty: Global Group –> Global Network Technology (đây là tôi đoán vậy!)
Tên công ty này phản ánh rất rõ ràng chiến lược toàn cầu hóa dịch vụ của GNT, GNT không chỉ kinh doanh ở Nhật Bản, mà sau khi thành công ở Nhật, GNT còn muốn thành công trên toàn thế giới và ở công ty này, bạn cảm nhận rất rõ xu hướng toàn cầu hóa, đâu đó vang lên vài câu tiếng anh, vài câu tiếng Việt, vài câu tiếng Trung, dĩ nhiên ngôn ngữ chính ở trụ sở ở Nhật là tiếng Nhật.

Tên viết tắt của công ty cũng có điểm phải bàn tới, GNT :  khi đọc phát âm tên này theo tiếng anh, các âm sắc phát ra rất mạnh, bạn có thể nói to, mạnh và cương quyết cái tên này.  Điều này rất có lợi cho việc phát biểu, nâng cao tinh thần nhân viên hoặc tạo ấn tượng sâu đậm trong tâm trí khách hàng.

Nói về khẩu hiểu của công ty: With you, we challange infinite posibillities!
Đây là một khẩu hiệu mạnh, tự tin và tràn đầy nhiệt huyết. Đối diện với một nhân viên của công ty này, bạn sẽ cảm thấy tin tưởng, bạn tin vào quyết tâm của họ, bạn tin vào tài năng của họ. Mục tiêu của cả hai không phải là những điều tầm thường, mà muốn vươn tới những khả năng vô hạn, thách thức những điều chưa ai thách thức và làm được những điều không ai làm được. Đó chắc chắn là tiền đề vững chắc của thành công.
Điều quan trọng nữa là công ty không vươn tới thành công một mình, mà luôn đi cùng khách hàng : “WITH YOU” và “WE”. Điều này chứng tỏ GNT luôn luôn hiểu và muốn mang lại lợi ích cho cả hai, khách hàng, đối tác và bản thân công ty.

Bài học rút ra

- Chọn một tên công ty dễ phát âm (cocacola), ngắn gọn (nike),  mở rộng tầm hoạt động cho tương lai (Global Group), với công ty Việt thì nên cân nhắc chọn cả anh và việt cho hợp lý – theo luật là đăng ký tên chính là tiếng việt.
- Khẩu hiệu công ty phải rõ ràng, bộc lộ được khát vọng của doanh nghiệp và tôn trọng mối quan hệ hợp tác

Tham khảo thêm

- Chọn tên công ty: Nguyên tắc đặt tên cty công ty

April 28, 2009

Nữ hoàng đổi mới

Filed under: Business, Vietnamese — doqkhanh @ 12:16 PM
Được mệnh danh là “nhà máy ý tưởng” của Google hay Bà hoàng của đổi mới, nhiệm vụ của Marissa Mayer là đưa các dự án mới ra trình bày trước lãnh đạo công ty. Ở tuổi 30 là phó chủ tịch phụ trách phát triển sản phẩm của Google, đồng thời cũng là giảng viên của Stanford, Marissa đã có một buổi giảng 45 phút với sinh viên của trường này về 9 nguyên lý giúp Google đổi mới, bao gồm Slide tóm tắt trên Business Week.

1. Ý tưởng đến từ khắp nơi.
Google cho rằng mọi người đều cần đổi mới, thậm chí cả nhóm kế toán.

2. Chia sẻ mọi thứ bạn có thể.
Chia sẻ mọi thứ bạn biết như y tưởng, dự án, thông tin, thời hạn v.v.. trên mạng nội bộ của công ty

3. Bạn thật tài giỏi, còn chúng tôi tuyển dụng
Các sáng lập viên Larry Page và Serger Brin ủng hộ tuyển dụng. Họ đánh giá cao năng lực hơn so với kinh nghiệm.

4. Giấy phép cho việc theo đuổi ước mơ.
Bao gồm cả quyền, nguồn lực và điều kiện để thực hiện. Nhân viên Google có 1 ngày tự do trong tuần để theo đuổi dự án do mình tự lựa chọn. 20% các sản phẩm mới của Google đến từ các dự án này.

5. Đổi mới, chứ không phải hoàn hảo ngay lập tức.
Google công bố các sản phẩm rất sớm, từ khi chúng còn chưa hoàn thiện, sau đó nâng cấp chúng liên tục.

6. Số liệu không bao giờ định kiến.
Marissa không thích nghe cụm từ “tôi thích” mà muốn mọi người dùng các số đo.

7. Sáng tạo luôn yêu quý các ràng buộc.
Đọc bài viết dưới để hiểu rõ ý tưởng này

8. Người sử dụng trước, tiền sẽ đến sau.
Hãy cung cấp các sản phẩm, dịch vụ dễ sự dụng và dễ dàng yêu thích. Tiền sẽ tới sau.

9. Đừng từ bỏ một dự án mà hãy biến đổi chúng.
Mọi dự án đều có một cái gì đó có thể sử dụng lại được.

Dưới đây là đoạn phim Marissa giảng hoặc tải về ở đây (dài khoảng 45 phút).

Một bài khác về cách làm việc của Marissa.

Bản quyển : http://my.opera.com/iguru/blog/?startidx=60

April 23, 2009

Lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng

Filed under: Business, Vietnamese — doqkhanh @ 11:34 AM

Việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: (i) uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; (ii) khả năng huy động vốn; (iii) rủi ro đầu tư; (iv) tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; (v) tổ chức quản lý doanh nghiệp.

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Luật về tổ chức và thành lập doanh nghiệp ở Việt nam hiện có Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, luật Hợp tác xã, luật Các tổ chức tín dụng… Theo đó, Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp.

Vì vậy việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: (i) uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; (ii) khả năng huy động vốn; (iii) rủi ro đầu tư; (iv) tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; (v) tổ chức quản lý doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.

Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân và tính chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản nên mức độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp.

Công ty hợp danh

Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: (i) Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn; (i) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; (i) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp đăng ký kinh doanh và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn.

Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty; không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.

Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau. Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.

Loại hình công ty hợp danh mới chỉ được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 1999 nên trên thực tế loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến.

Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên

Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.

Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc. Công ty trách nhiệm hữu hạn có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát.

Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt nam hiện nay. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như: (i) do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn; (ii) số lượng thành viên công ty không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp; (iii) Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty. Tuy nhiên, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có những hạn chế nhất định như: (i) do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng; (ii) công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh; (iii) việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu.

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hình thức đặc biệt của công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.

Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu và không được giảm vốn điều lệ.

Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn đã góp vào công ty. Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn cho tổ chức hoặc cá nhân khác. Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận của công ty khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả.

Tùy thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc.

Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có đầy đủ các đặc thù của công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên trở lên. Điểm khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên trở lên là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất và thành viên này có thể là tổ chức hoặc cá nhân.

Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty.

Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: (i)Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; (ii)Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; (iii)Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập; (iv)Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.

Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát.

Lợi thế của công ty cổ phần là: (i) chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao; (ii) khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực, ngành nghề; (ii) cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty; (iv) khả năng huy động vốn của công ty cổ phầnrất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần; (v) việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần.

Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định như: (i) việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích; (ii) Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán.

Công ty nhà nước

Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà Nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước.

Công ty nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội; ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn; ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao; hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư.

Người có thẩm quyền ra quyết định thành lập mới công ty nhà nước là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Riêng đối với việc quyết định thành lập mới công ty nhà nước đặc biệt quan trọng, chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt, làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

Công ty nhà nước có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty mới được tiếp nhận vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn để đầu tư, xây dựng doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh; công ty được kinh doanh những ngành, nghề có điều kiện khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh ngành, nghề có điều kiện hoặc có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Công ty nhà nước được tổ chức quản lý theo mô hình có hoặc không có Hội đồng quản trị. Các tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập sau đây có Hội đồng quản trị: (i) Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập; (ii) Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước; (iii) Công ty nhà nước độc lập có quy mô vốn lớn giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác.

Hợp tác xã

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật hợp tác xã để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.

Hoạt động kinh doanh dưới hình thức hợp tác xã có nhiều lợi thế như: (i) có thể thu hút được đông đảo người lao động tham gia; (ii) việc quản lý hợp tác xã thực hiện trên nguyên tắc dân chủ và bình đẳng nên mọi xã viên đều bình đẳng trong việc tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của hợp tác xã không phân biệt nhiều vốn hay ít vốn; (iii) các xã viên tham gia hợp tác xã chỉ chịu trách nhiệm trước các hoạt động của hợp tác xã trong phạm vi vốn góp vào hợp tác xã. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh theo hình thức hợp tác xã cũng có những hạn chế nhất định, như không khuyến khích được người nhiều vốn, nhiều kinh nghiệm quản lý, kinh doanh tham gia hợp tác xã do nguyên tắc chia lợi nhuận kết hợp lợi ích của xã viên với sự phát triển của hợp tác xã; việc quản lý hợp tác xã phức tạp do số lượng xã viên đông; Sở hữu manh mún của các xã viên đối tài sản của mình làm hạn chế các quyết định của Hợp tác xã.

Doanh nghiệp liên doanh

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp. Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư.

Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án quy có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn, nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp thuận. Tỷ lệ góp vốn của bên hoặc các bên liên doanh nước ngoài do các bên liên doanh thoả thuận, nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh. Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công nghệ, thị trường, hiệu quả kinh doanh và các lợi ích kinh tế – xã hội khác của dự án, Cơ quan cấp giấy phép đầu tư có thể xem xét cho phép bên liên doanh nước ngoài có tỷ lệ góp vốn thấp hơn, nhưng không dưới 20% vốn pháp định.

Đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp liên doanh là có sự phối hợp cùng góp vốn đầu tư sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư Việt nam. Tỷ lệ góp vốn của mỗi bên sẽ quyết định tới mức độ tham gia quản lý doanh nghiệp, tỷ lệ lợi nhuận được hưởng cũng như rủi ro mỗi bên tham gia liên doanh phải gánh chịu.

Doanh nghiệp liên doanh là hình thức doanh nghiệp thực sự đem lại nhiều lợi thế cho cả nhà đầu tư việt nam và nhà đầu tư nước ngoài. Đối với các nhà đầu tư việt nam, khi tham gia doanh nghiệp liên doanh, ngoài việc tượng phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, nhà đầu tư việt nam còn có điều kiện tiếp cận với công nghệ hiện đại, phong cách và trình độ quản lý kinh tế tiên tiến. đối với bên nước ngoài, lợi thế được hưởng là được đảm bảo khả năng thành công cao hơn do môi trường kinh doanh, pháp lý hoàn toàn xa lạ nêu không có bên việt nam thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, hình thức doanh nghiệp liên doanh cũng có sự bất lợi là có sự ràng buộc chặt chẽ trong một pháp nhân chung giữa các bên hoàn toàn khác nhau không chỉ về ngôn ngữ mà còn về truyền thống, phong tục, tập quán, phong cách kinh doanh, do vậy có thể phát sinh những mâu thuẫn không dễ gì giải quyết.

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước đầu tư nước ngoài do Nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư.

Vốn pháp định của Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bán khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp nhận.

Ngoài các loại hình doanh nghiệp kể trên, còn một số loại hình doanh nghiệp đặc thù khác được thành lập và tổ chức theo luật chuyên ngành như văn phòng luật sư, công ty luật, ngân hàng, tổ chức tín dụng…

Bản quyền :  http://www.luatgiapham.com/tai-nguyen/doanh-nghip/202-lua-chon-hinh-thuc-doanh-nghiep.html

April 22, 2009

Quy định về việc gửi thư điện tử, tin nhắn quảng cáo

Filed under: Law, Vietnamese — doqkhanh @ 3:27 PM
? Doanh nghiệp chúng tôi có chức năng cung cấp dịch vụ quảng cáo cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu quảng cáo. Xin cho biết việc gửi thư điện tử, tin nhắn quảng cáo phải thực hiện như thế nào thì đúng luật và không bị coi là thư rác?

Trả lời: Ngày 13/8, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 90/2008/NĐ-CP về chống thư rác. Theo quy định của Nghị định 90, thư rác (spam) là thư điện tử, tin nhắn được gửi đến người nhận mà người nhận đó không mong muốn hoặc không có trách nhiệm phải tiếp nhận theo quy định của pháp luật. Thư rác trong Nghị định này bao gồm thư điện tử rác và tin nhắn rác.

Để việc gửi thư điện tử, tin nhắn quảng cáo được tiến hành đúng pháp luật và không bị coi là thư rác, cần chú ý một số quy định sau đây:

- Tổ chức, cá nhân ngoại trừ nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo (Nhà CCDVQC) chỉ được phép gửi thư điện tử quảng cáo, tin nhắn quảng cáo khi có sự đồng ý trước đó của người nhận.
- Nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo (CCDVQC) chỉ được phép gửi thư điện tử quảng cáo, tin nhắn quảng cáo cho đến khi người nhận từ chối việc tiếp tục nhận thư điện tử quảng cáo, tin nhắn quảng cáo.
- Trong vòng 24 giờ, kể từ khi nhận được yêu cầu từ chối, người quảng cáo hoặc nhà CCDVQC phải chấm đứt việc gửi đến người nhận các thư điện tử quảng cáo hay tin nhắn quảng cáo đã bị người nhận từ chối trước đó trừ trường hợp bất khả kháng.
- Nhà CCDVQC chỉ được phép gửi thư điện tử, tin nhắn quảng cáo từ hệ thống có các thông tin kỹ thuật đã đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông.
- Nhà CCDVQC bằng thư điện tử không được phép gửi quá 5 thư điện tử quảng cáo tới một địa chỉ thư điện tử trong vòng 24 giờ trừ trường hợp đã có thoả thuận khác với người nhận.
- Nhà CCDVQC bằng tin nhắn không được phép gửi quá 5 tin nhắn quảng cáo tới một số điện thoại trong vòng 24 giờ và chỉ được phép gửi trong khoảng thời gian từ 7h đến 22h mỗi ngày trừ trường hợp đã có thoả thuận khác với người nhận.

Khi thu thập, sử dụng địa chỉ điện tử cho mục đích quảng cáo, cần lưu ý:

- Chỉ được thu thập địa chỉ điện tử cho mục đích quảng cáo khi được sự đồng ý của người sở hữu địa chỉ điện tử đó;
- Phải nêu rõ mục đích, phạm vi sử dụng khi tiến hành thu thập địa chỉ điện tử và phải sử dụng địa chỉ thư điện tử theo đúng mục đích, phạm vi đã được người sở hữu địa chỉ đó cho phép.

Tên viết tắt của doanh nghiệp phải tuân theo quy định nào?

Filed under: Law, Vietnamese — doqkhanh @ 3:18 PM

? Công ty tôi là Công ty cổ phần chuyên kinh doanh, xuất nhập khẩu cà phê. Tên Công ty bằng tiếng nước ngoài được viết với khổ chữ lớn hơn tên Công ty bằng tiếng Việt. Vậy Công ty tôi viết tên như vậy có đúng không? Quy định tại điều nào? Văn bản Luật nào?

Trả lời: Căn cứ Điều 33- Luật Doanh nghiệp năm 2005, thì mọi loại hình doanh nghiệp khi viết bằng tiếng nước ngoài và tên viết tắt của doanh nghiệp phải tuân theo quy định sau:

1. Tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài là tên được dịch từ tên bằng tiếng Việt sang tiếng nước ngoài tương ứng. Khi dịch sang tiếng nước ngoài, tên riêng của doanh nghiệp có thể giữ nguyên hoặc dịch theo nghĩa tương ứng sang tiếng nước ngoài.
2. Tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên bằng tiếng Việt của doanh nghiệp tại cơ sở của doanh nghiệp hoặc trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành.

3. Tên viết tắt của doanh nghiệp được viết tắt từ tên bằng tiếng Việt hoặc tên viết bằng tiếng nước ngoài.

Như vậy, Công ty anh/chị viết tên Công ty bằng tiếng nước ngoài với khổ chữ lớn hơn tên công ty bằng tiếng Việt là không đúng.
Luật sư Phạm Hùng Thắng – Đoàn LS Thanh Hoá

April 10, 2009

By using flowing query, you can easily c…

Filed under: Vietnamese — doqkhanh @ 8:43 AM

By using flowing query, you can easily convert wordpress database from any character set and collate to utf-8 character set and unicode_ci collate :

ALTER TABLE `wp_options` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_postmeta` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_posts` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_ratings` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_terms` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_usermeta` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_users` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_term_relationships` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_term_taxonomy` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;

Happy blogging !

April 9, 2009

Không chỉ còn là tiềm năng, mà đã là thời cơ

Filed under: Business, Vietnamese — doqkhanh @ 9:45 AM

Xin được trích dẫn:

Ông Vũ Minh Trí, Tổng giám đốc Yahoo! Việt Nam cho biết, theo kết quả nghiên cứu và khảo sát tháng 12/2008, chi phí bình quân cho việc sử dụng Internet (phí thuê bao) vào khoảng 174.000 đồng/người/tháng (tương đương 10 USD). Nếu tính tổng cộng cả nước, chi phí bình quân cho việc sử dụng Internet lên tới 600 tỷ đồng/tháng, tương đương 7.200 tỷ đồng năm 2008.

Tuy nhiên, tổng chi phí quảng cáo trên Internet năm 2008 ước tính chỉ đạt 2,81 triệu USD (dự báo năm 2010 tăng lên 7,8 triệu USD), chỉ bằng hơn 1,5% trên tổng chi phí quảng cáo trên mọi phương tiện năm 2008 tại Việt Nam. Vậy tại sao lại có tình trạng số người sử dụng Internet tăng rất nhanh trong khi tốc độ tăng quảng cáo trên Internet tăng chậm hơn rất nhiều?

Chi tiết tại:
http://vneconomy.vn/20090405074018168P0C16/thoi-gian-binh-quan-dung-internet-da-tang-gap-doi.htm

March 17, 2009

Quản lý rủi ro

Filed under: Business, Vietnamese — doqkhanh @ 12:29 PM
Vòng lặp quản lý rủi ro

Vòng lặp quản lý rủi ro

Quản lý rủi ro

Quản lý rủi ro là quá trình xác định, phân tích và chấp nhận hoặc hạn chế những nguy cơ tiềm ẩn trong các quyết định, hành động. Quản lý rủi ro là vô cùng cần thiết bất cứ khi nào nhà quản lý  phân tích và cố gắng định lượng nguy cơ bị hại, thiệt thòi, thất bại trong một quyết định, hành động từ đó có những hành động phù hợp, điều chỉnh lại mục tiêu quản lý và mức độ rủi ro có thể chấp nhận được.

Nói một cách đơn giản quản lý rủi ro gồm có hai bước chính: xác định rõ các rủi ro tiềm ẩn trong một quyết định, hành động và do đó kiểm soát những rủi ro này theo cách phù hợp nhất với mục tiêu quản lý.

Quản lý rủi ro vô hình quản lý một dạng rủi ro mới: rủi ro có khả năng xảy ra 100% nhưng lại bị bỏ qua do nhà quản lý không có khả năng xác định được. Ví dụ : rủi ro về hiểu biết xảy ra khi bạn không có kiến thức mà vẫn tiến hành một công việc gì đó. Rủi ro về quan hệ xảy ra khi các bên hợp tác với nhau kém hiệu quả. Rủi ro về quá trình xảy ra khi việc vận hành không trơn tru. Những rủi ro này làm giảm năng suất của những công nhân có tri thức, giảm chi phí hiệu quả, giảm lợi nhuận, giảm chất lượng, ảnh hưởng đến danh tiếng, giá trị nhãn hiệu và doanh số. Quản lý rủi ro vô hình có khả năng nhận dạng và giảm thiểu các rủi ro đe doạ đến năng suất, sản lượng và từ đó tạo ra giá trị cho người quản lý.

Việc quản lý rủi ro cũng gặp những khó khăn nhất định trong việc phân bổ nguồn lực. Đây chính là biểu hiện của lý thuyết chi  phí cơ hội.  Dù quản lý rủi ro làm giảm thiểu nguy cơ gặp rủi ro song các nguồn lực được sử dụng để quản lý rủi ro lại có thể được sử dụng cho các hoạt động khác có khả năng sinh lợi cao hơn.

Mọi doanh nghiệp hoạt động đều hướng tới mục tiêu tạo ra lợi thế cạnh tranh và đem lại giá trị tăng thêm cho những đối tác bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ với hoạt động của mình. Để có thể đạt được mục tiêu đó, doanh nghiệp thường xây dựng cho mình chiến lược hoạt động cùng hàng loạt những chương trình, kế hoạch để thực thi những chiến lược đã được đề ra. Trong quá trình thực thi chiến lược sẽ thường có nhiều rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng đến quá trình tiến tới mục tiêu của doanh nghiệp. Hệ thống quản lý rủi ro doanh nghiệp được thiết lập nhằm san lấp những khiếm khuyết này.

Khái niệm về quản lý rủi ro doanh nghiệp

Quản lý rủi ro trong doanh nghiệp

Quản lý rủi ro trong doanh nghiệp

COSO1 định nghĩa quản lý rủi ro doanh nghiệp “là một quy trình được thiết lập bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các cán bộ có liên quan khác áp dụng trong quá trình xây dựng chiến lược doanh nghiệp thực hiện xác định những sự vụ có khả năng xảy ra gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp đồng thời quản lý rủi ro trong phạm vi cho phép nhằm đưa ra mức độ đảm bảo trong việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp”. Trong khi đó, rủi ro được định nghĩa là tập hợp của các khả năng có thể xảy ra của một sự việc nào đó cũng như hậu quả của nó.

Quản lý rủi ro doanh nghiệp ngày nay được coi như là một bộ phận không thể tách rời với chiến lược doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là chiến lược của doanh nghiệp sẽ được xem là không đầy đủ nếu thiếu vắng sự gắn kết với quản lý rủi ro. Một doanh nghiệp da giầy nào đó chẳng hạn bất ngờ phải đối mặt với một vụ kiện chống bán phá giá dẫn tới những thua thiệt trong việc nhận đơn hàng. Nhân công của một nhà máy nào đó bất ngờ đình công làm ngưng trệ sản xuất. Hàng loạt nhân viên giỏi của một công ty nào đó ra đi để chuyển sang doanh nghiệp khác hoặc thành lập công ty riêng .v.v. Những rủi ro đó sẽ làm cho doanh nghiệp bị bất ngờ và dẫn đến thiệt hại ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh nghiệp nếu như chúng không được doanh nghiệp lường trước. Tất cả những vấn đề đó đều được thiết kế và soi rọi trong lăng kính của quản lý rủi ro doanh nghiệp.

Có nhiều loại rủi ro
Có nhiều loại rủi ro khác nhau được xâm nhập từ bên ngoài doanh nghiệp cũng như phát sinh bên trong doanh nghiệp. Rủi ro thường được phân loại vào những nhóm chính như rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chính, rủi ro quản lý tri thức và rủi ro tuân thủ.
Mục tiêu hoạt động của quản lý rủi ro doanh nghiệp

Mục đích
Quản lý rủi ro doanh nghiệp có mục đích hoạt động là bảo vệ và đóng góp những giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp và các đối tác liên quan của doanh nghiệp hỗ trợ doanh nghiệp đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua những nội dung cơ bản sau thể hiện tác dụng của quản lý rủi ro doanh nghiệp:

o Xây dựng khuôn khổ nhằm giúp doanh nghiệp thực hiện kế hoạch tương lai có tính nhất quán và có thể kiểm soát;
o Tăng cường năng lực trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và sắp xếp thứ tự ưu tiên công việc trên cơ sở hiểu biết thấu đáo và chặt chẽ về hoạt động kinh doanh, môi trường kinh doanh, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp;
o Góp phần phân bổ và sử dụng hiệu quả những nguồn lực trong doanh nghiệp;
o Giảm thiểu những sai sót trong mọi khía cạnh của doanh nghiệp;
o Bảo vệ và tăng cường tài sản cũng như hình ảnh doanh nghiệp;
o Phát triển và hỗ trợ nguồn nhân lực và nền tảng tri thức của doanh nghiệp;
o Tối ưu hóa hiệu quả hoạt động.

harassmentfig01

Chính sách quản lý rủi ro doanh nghiệp
Chính sách quản lý rủi ro được xây dựng trong đó xác định phương pháp tiếp cận đối với rủi ro và quản lý rủi ro. Đồng thời chính sách quản lý rủi ro cũng nêu rõ trách nhiệm trong việc quản lý rủi ro trong toàn bộ doanh nghiệp.

Hội đồng quản trị là người chịu trách nhiệm xác định định hướng chiến lược và cơ cấu cho chức năng quản lý rủi ro doanh nghiệp nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả nhất. Các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp có trách nhiệm trước hết trong việc quản lý rủi ro hàng ngày, gắn kết việc nhận thức và tuyên truyền về quản lý rủi ro trong bộ phận mình công tác. Kiểm toán nội bộ là người đảm bảo rằng công tác quản lý rủi ro được thực thi có hiệu quả thông qua việc đánh giá theo chương trình, kế hoạch của kiểm toán nội bộ.

Bộ phận chuyên trách đảm nhiệm chức năng quản lý rủi ro
Tùy thuộc quy mô của doanh nghiệp có thể thiết lập một bộ phận chuyên trách đảm nhiệm chức năng quản lý rủi ro trong doanh nghiệp. Nhìn chung, nhiệm vụ của bộ phận này cần phải thực hiện bao gồm:
o Xây dựng chính sách và chiến lược quản lý rủi ro trong doanh nghiệp;
o Thiết kế định hướng quản lý rủi ro ở cấp độ chiến lược và chức năng;
o Xây dựng văn hóa nhận thức về rủi ro trong doanh nghiệp trong đó có việc đào tạo về quản lý rủi ro trong doanh nghiệp;
o Xây dựng chính sách và tổ chức quản lý rủi ro nội bộ đối với các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp;
o Thiết kế và rà soát quy trình quản lý rủi ro;
o Điều phối các hoạt động chức năng khác nhau có liên quan đến vấn đề quản lý rủi ro trong doanh nghiệp;
o Xây dựng các quy trình ứng phó với rủi ro trong đó có các chương trình dự phòng và duy trì hoạt động kinh doanh thường xuyên;
o Chuẩn bị báo cáo về quản lý rủi ro đệ trình hội đồng quản trị và các đối tác liên quan của doanh nghiệp.

Quy trình quản lý rủi ro được thiết kế mang tính đồng bộ và có sự gắn kết với việc xây dựng và thực thi chiến lược của doanh nghiệp. Về cơ bản, quy trình quản lý rủi ro cần chứa đựng những giai đoạn hay bước công việc cơ bản như xác định rủi ro, mô tả rủi ro, lượng hóa rủi ro, phân tích rủi ro, xếp hạng rủi ro, đánh giá rủi ro, lập báo cáo về rủi ro, xử lý rủi ro, theo dõi và rà soát quy trình trình quản lý rủi ro.

Kèm theo quy trình quản lý rủi ro là hệ thống những phương pháp luận và công cụ phục vụ công tác quản lý rủi ro đồng bộ được thiết kế cho các công đoạn khác nhau của quy trình kinh doanh. Để thực thi quy trình quản lý rủi ro một cách hiệu quả cần tranh thủ sự ủng hộ và cam kế tủng hộ của lãnh đạo doanh nghiệp, phân công trách nhiệm rõ ràng cũng như phân bổ nguồn lực phù hợp, đào tạo và tuyên truyền về quản lý rủi ro cho mọi đối tượng liên quan./.

Những dấu hiệu thường thấy để nhận biết một hệ thống quản lý rủi ro kém hiệu quả
o Doanh nghiệp không xây dựng chính sách quản lý rủi ro
o Doanh nghiệp không thực hiện  những nỗ lực để ngăn chặn rủi ro
o Không có người chịu trách nhiệm quản lý rủi ro trong doanh nghiệp
o Quản lý rủi ro không được xác định là vấn đề ưu tiên của doanh nghiệp
o Doanh nghiệp ít quan tâm đến rủi ro hoặc quan tâm quá muộn
o Không có khuôn khổ đánh giá rủi ro thống nhất trong doanh nghiệp
o Doanh nghiệp không gắn kết quản lý rủi ro với những quy trình hay chuỗi giá trị của doanh nghiệp
o Doanh nghiệp thực hiện  việc quản lý rủi ro một cách rời rạc
o Doanh nghiệp thực hiện quản lý rủi ro một cách thiếu tập trung
o Công tác quản lý rủi ro ngày càng bị coi nhẹ trong doanh nghiệp
o Không có sự đồng nhất trong cách diễn đạt ngôn ngữ rủi ro trong doanh nghiệp
o Thiếu sự trao đổi thông tin về rủi ro trong doanh nghiệp
o Hệ thống kiểm soát chiến lược của doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả
o Trong doanh nghiệp tồn tại “những vị trí đáng tin cậy” không được kiểm soát
o Phân công trách nhiệm không phù hợp

Copyright:
1. saga.vn
2. dpconsulting.com.vn

March 13, 2009

Quá trình đưa ra một quyết định

Filed under: Business, Vietnamese — doqkhanh @ 2:13 PM

1. Xác định được mối liên hệ giữa những quyết định cần phải ra cùng với các mục tiêu cần phảl đạt được Xác định rõ tầm quan trọng và những hạn chế của các quyết định.

Công việc mới sẽ lâu dài hay chỉ là tạm thời hoặc là vẫn chưa xác định được cả hai điều đó ? Sản phẩm mới nên tung ra ở tất cả các thị trường hay chỉ tung ra ở thị trường thử nghiệm ? Phạm vi ảnh hưởng của quyết định có thể bị thay đổi như thế nào ? Giới hạn có thể của nó là gì ?

Khi ra quyết định hãy tính tới việc gạn lọc các mục tiêu đề ra. Ví dụ như khi chúng ta phải quyết định sẽ tuyển ai làm thư kí mới cho mình – để có thể tổ chức văn phòng trở nên ngăn nắp và hoạt động có hiệu quả. Hoặc là chúng ta phải quyết định xem sẽ đi nghỉ ở đâu để có thể nghỉ ngơi và tĩnh dưỡng khỏi nhịp sống gấp gáp của cuộc sống.

2.  Chấp nhận thực tế

Nhưng nên nhớ rằng bạn không thể chấp nhận tất cả thực tế được. Hãy chấp nhận thực tế nhiều nhất có thể khi ra quyết định trong giới hạn thời gian dựa trên bạn và khả năng giải quyết công việc của bạn. Nhưng hãy nhớ rằng hầu như mọi quyết định đều được thực hiện do sự hiểu biết không hoàn chỉnh về một phần nào đấy. Việc thiếu thông tin đầy đủ có thể làm bạn tê liệt trong quá trình ra quyết định. Một quyết định dựa trên khả năng hiểu biết không hoàn chỉnh bao giờ cũng tốt hơn là không quyết định nào được đưa ra trong khi hoàn cảnh đòi hỏi nhất định phải đưa ra quyết định. Câu tục ngữ “có còn hơn không“ nghe có vẻ hơi quá nhưng đã cho thấy tầm quan trọng của việc ra quyết định. Khi đến ngã rẽ, bạn sẽ phải quyết định xem mình nên rẽ trái hay phải, việc chọn rẽ bên nào không quan trọng bằng thực tế là bạn sẽ thực sự làm gì.

Giống như bộ sưu tập các thông tin, hãy liệt kê danh sách những cảm giác, linh cảm, sự thúc giục trực giác của bạn. Có rất nhiều quyết định về cơ bản phải dựa vào hoặc là bị ảnh hưởng bởi khả năng trực giác. Cũng là một phần trong bộ sưu tập các thông tin, bạn hãy tham khảo ý kiến những người bị ảnh hưởng bởi quyết định và những người phải thi hành quyết định của mình. Việc tham khảo những người như thế này không chỉ giúp bạn trong việc cung cấp thông tin ra quyết định mà còn bắt đầu tạo ra sự chấp thuận cần thiết của những người thi hành bởi vì họ có cảm giác họ là một phần của quá trình đưa ra quyết định. Giống như tác giả Russell Ackoff đã lưu ý trong cuốn “Nghệ thuật giải quyết khó khăn“ thì việc không tham khảo ý kiến của người khác trong việc ra quyết định thuờng được đánh giá như là một hành động bất hợp tác.

3.  Phát triển những khả năng thay thế, chọn lựa

Lập một bảng danh sách gồm tất cả lựa chọn có thể mà bạn có trong đó bao gồm cả việc lựa chọn không làm gì cả. Bản thân việc không chọn lựa một trong những khả năng đã đề ra thân cũng là một quyết định. Việc không đưa ra quyết định là không có lợi như chúng ta đã đề cập ở trên nhưng đôi khi việc này là có lợi hoặc thậm chí là tốt hơn một số quyết định thay thế khác do đó điều này nên được chủ ý sử dụng trong quá trình ra quyết định.

Bạn cũng nên chắc chắn rằng mình không chỉ lưu tâm đến việc tìm ra các phương pháp thay thế sẵn có mà còn phải sáng tạo ra những phương pháp vẫn chưa xuất hiện. Ví dụ như nếu như việc bạn muốn chọn chuyên nghành nào để theo đuổi ở trường thì không nên chỉ nghĩ đến những ngành có sẵn trong catalog mà phải sáng tạo ra khoá học của riêng cho bạn nữa.

4.  Đánh giá các lựa chọn thay thế

Đây là việc đánh giá giá trị của mỗi lựa chọn. Hãy cân nhắc mặt tiêu cực của các lựa chọn khác nhau (về giá cả, kết quả, những rắc rốI phát sinh … vân vân) và mặt tích cực của chúng (tiết kiệm tiền, thời gian, nâng cao tính sáng tạo cho nhân viên cũng như cả công ty … vân vân). Bạn cũng nên lưu ý một điều rằng sự chọn lựa mà bạn cho là tốt nhất hoặc là tốt nhất trong những khả năng hợp lí nhất có thể sẽ không thiết thực trong đời sống thực tế bởi vì nó quá tốn kém và mất thời gian hoặc là thiếu sự ủng hộ của mọi người xung quanh.

Bạn cũng đừng quên việc tính đến các yếu tố gián tiếp trong quá trình đánh giá. Nếu như bạn đang phảI quyết định là mình phải chọn lựa sử dụng thiết bị X, Y hay Z và bạn đã có một nhân viên biết cách vận hành thiết bị Z thì cần phảI cân nhắc quyết định thông qua thực tế sử dụng. Nếu như bạn đang chọn một nhóm kiểm tra sang Nhật tìm địa điểm đặt trụ sở và bạn có một số ứng cử viên đủ yêu cầu là A, B và C, thực tế là B là một nhân viên đánh máy giỏi, một nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp và một số lợi thế khác cần cho một thành viên đủ điều kiện tham gia nhóm thì bạn cũng phải cân nhắc kĩ càng. Trên thực tế những gì bạn mà bạn ghi trong mục sở thích và các mốI quan tâm cá nhân ở bản lí lịch thì có thể chúng sẽ khá quan trọng khi bạn đi xin việc bởi vì các nhà tuyển dụng rất chú ý tới những người có khả năng đa dạng.

5.  Đánh giá mức độ rủi ro của mỗi lựa chọn

Trong quá trình giải quyết vấn đề, bạn tìm kiếm khắp nơi để tìm ra giải pháp phù hợp nhất cho một vấn đề cá biệt nào đó và trong quá trình tìm kiếm như vậy, bạn hầu như chắc chắn rằng giải pháp sẽ có hiệu quả. Tuy nhiên trong quá trình đưa ra quyết định thì luôn có một vài mức độ không chắc chắn trong bất kì sự lựa chọn nào. Liệu Bill có làm việc tốt ở cương vị là nhà quản lí mới của chúng ta không ? Nếu như chúng ta quyết định phát triển ở Canada thì việc kinh doanh của chúng ta có thực sự tăng trưởng không ? Nếu như chúng ta để Jane hẹn hò với Fred ở tuổi 15 thì có tốt không ? Nếu như bạn quyết định cưới X hoặc mua ô tô Y hay học ở trường Z thì đó liệu có phải là sự lựa chọn tốt nhất hay ít nhất là sự lựa chọn thành công không ? Đó là một loạt các câu hỏi ví dụ cho mức độ rủi ro trong việc đưa ra các quyết định.

Rủi ro có thể đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm, việc xếp thứ hạng hay là dưới một số hình thức khác mà chúng ta có thể so sánh được.

6.  Đưa ra quyết định

Nếu như bạn đang phải đưa ra quyết định cá nhân thì hãy áp dụng sự ưa thích của bạn vào việc này (điều này có thể bao gồm việc chú ý đến sở thích của ngườI khác). Hãy chọn cách để làm theo dù nó có thể là lựa chọn duy nhất, nhiều lựa chọn hay là lựa chọn không làm gì hết.

Và dĩ nhiên là đừng quên thực hiện quyết định rồi sau đó đánh giá việc thực hiện đúng như khi bạn trải qua việc giải quyết khó khăn.

Một vấn đề quan trọng thường thường bị bỏ qua trong việc thực hiện đó là việc giải thích quyết định cho những ngườI thi hành có liên quan hoặc là những ngườl bị ảnh hưởng bởiquyết định đó , đừng chỉ đưa ra những lợi ích của kế hoạch mà hãy thẳng thắn giải thích những rủI ro và hạn chế có liên quan rồi chỉ ra rằng tại sao bạn lại tin tưởng rằng những lợi ích đã đề xuất có lợi hơn nhiều so với những mặt tiêu cực. Những ngườI thi hành sẽ quyết định sẵn sàng ủng hộ quyết định nhiều hơn khi họ nắm rõ những rủi ro và tin rằng họ được đối xử một cách thành thật và như những người lớn với nhau.

Cũng nên nhớ rằng có rất ít các quyết định là không thể bãi bỏ được. Đừng huỷ bỏ quyết định một cách vội vã bởi vì rất nhiều kế hoạch cần có thời gian để diễn ra hiệu quả, có thể bạn sẽ mất vài năm để cho chi nhánh của bạn ở Paris thu được lợi nhuận nhưng đừng lưỡng lự khi cần thay đổi phương hướng hoạt động nếu như một quyết định nào đó không có hiệu quả hoặc gây ra bất lợi. Bạn luôn luôn có thể đưa ra những quyết định khác để làm cho tình hình trở nên tốt đẹp hơn.

Copyright: chungta.com

March 6, 2009

Cơ sở hạ tầng cảm xúc (In Vietnamese)

Filed under: Business, Vietnamese — doqkhanh @ 11:50 AM

Một công ty thành công là công ty mà tại đó bạn sẽ tìm thấy những nhân viên có chuyên môn cao và những công cụ giúp họ áp dụng tốt kỹ năng của mình. Trong một doanh nghiệp thực sự thành công, ngoài hai yếu tố kể trên, bạn còn phải tìm thấy ở đó những lãnh đạo tài năng và đội ngũ nhân viên làm việc tận tuỵ để cả hai bên cùng chia sẻ trách nhiệm ràng buộc với nơi mình làm việc. Đó chính là cái được gọi là cơ sở hạ tầng cảm xúc – cơ sở hạ tầng thứ ba ngoài cơ sở hạ tầng vật chất và trí tuệ.

Để đảm bảo doanh nghiệp của bạn đạt được những thành công thực sự, với vai trò là người lãnh đạo, bạn nên tuân theo 8 nguyên tắc sau:

1. Gần gũi
Lãnh đạo là những người xuất hiện khi cần. Những lãnh đạo thông minh nên hiện hữu để giúp đội ngũ nhân viên cập nhật thông tin thường xuyên và tạo ra những cơ hội để trò chuyện với nhân viên. Người lãnh đạo gần gũi là người luôn nhận thấy đúng lúc đâu là những ưu thế của người lãnh đạo tại bất kỳ nơi nào.

2. Giao tiếp tốt
Lãnh đạo là những người cởi mở, chân thật, và biết cách giao tiếp với mọi người xung quanh. Họ sử dụng vô số kênh giao tiếp khiến đối tác phải tham gia, cộng tác trong cuộc trò chuyện ấy, và biết cách làm thế nào để làm chủ những cuộc nói chuyện kế tiếp.

3. Những nghi thức có một không hai
Những câu chuyện và nghi thức cụ thể không chỉ làm cho một công ty trở nên độc đáo và duy nhất mà còn tăng cường những quan niệm và tư tưởng trong công ty. Những yếu tố tưởng tượng và quan liêu nghi thức được truyền tải bởi những nhà lãnh đạo sẽ mang lại mục đích và ý nghĩa nào đó đối với nhân viên. Họ dành cho nhân viên cảm giác rằng họ là một phần của điều đặc biệt xây dựng lên niềm kiêu hãnh và đam mê.

4. Gắn bó khi hoạn nạn
Rất nhiều tổ chức đã sụp đổ khi khó khăn xảy ra liên tiếp và để lại hậu quả nặng nề, nhưng một tổ chức gắn bó với nhau bằng tình cảm thì những thành viên trong đó sẽ cùng chung vai gánh vác, “vực” công ty dậy và dần trở nên mạnh hơn. Nghịch cảnh hay khó khăn hoạn nạn mang lại cho người lãnh đạo cơ hội hiếm hoi để chứng tỏ với nhân viên rằng họ thành thật quan tâm, lo lắng đến nhân viên.

Ví dụ như hãng hàng không Southwest Airlines trong vụ khủng bố 11/9 tại Mỹ năm 2001. Trong khi các hãng hàng không tên tuổi khác buộc phải cho không ít nhân viên nghỉ việc thì Southwest ngược lại, những lãnh đạo điều hành của hãng đã quyết định không nhận lương của mình để chi trả lương cho nhân viên.

5. Những hệ thống hỗ trợ tình nguyện
Những nhà lãnh đạo nên để những mạng lưới xã hội mang tính chất khuyến khích phát triển một cách đa dạng, phong phú trong tổ chức của mình. Lãnh đạo cần tạo cơ hội để bản thân họ cũng như nhân viên kết nối với thế giới bên ngoài và làm việc một cách hiệu quả như những người kết nối nhằm “nhập khẩu” những ý tưởng có giá trị và phổ biến những kỹ năng tốt nhất trong tổ chức.

6. Một tầm nhìn táo bạo
Công ty có một tầm nhìn tương đối táo bạo và đầy tham vọng, đôi khi còn quá viển vông. Và tầm nhìn táo bạo này đúng hơn là một nhận định về nhiệm vụ, nó bao gồm “cộng đồng tầm nhìn” tổng thể mà người lãnh đạo đưa ra. Bởi vì con người ta rút ra bài học từ những mục tiêu đầy thử thách rằng: “Cộng đồng tầm nhìn giúp họ đặt ra các nghi vấn với tầm nhìn đã được vạch ra, duy trì sự hiện hữu của tầm nhìn đó và đưa nó lên vị trí nổi bật hoặc chìm vào quên lãng”.

7. Những giá trị sâu sa hơn
Khi tầm quan trọng được đặt trên những giá trị ngoài cấp độ công ty, nhân viên sẽ cảm thấy có sự ràng buộc, gắn kết hơn với tổ chức. Lúc này người lãnh đạo cần tuân thủ một số nguyên tắc sau: đảm bảo những giá trị phải phù hợp với những thời điểm thay đổi, và họ phải sống dựa trên những giá trị được chọn làm biểu tượng cho tổ chức và khuyến khích ý kiến phản hồi.

8. Tính độc nhất tối cao
Nếu như gia nhập vào một tổ chức một cách dễ dàng, nhân viên sẽ không có mối ràng buộc sâu sắc với nó. Như chúng ta vẫn thường hay nói “dễ đến thì cũng dễ đi”. Ngược lại, nếu trải qua nhiều khó khăn mới có thể “thâm nhập” vào một tổ chức thì sau đó người ta sẽ cảm thấy quan tâm đến tổ chức hơn. Một khi bạn được chấp nhận vào các tổ chức, việc gắn kết này không chỉ thể hiện bạn là ai mà còn xác định cuối cùng bạn sẽ trở thành người như thế nào.

Copyright: Vijay Govindarajan – Theo Entrepreneur – X.Chi dịch

March 3, 2009

Image Post

Filed under: Vietnamese — doqkhanh @ 3:33 AM

Mô tả module

December 27, 2008

Cuốn “Triết lý ConAgra” đư …

Filed under: Vietnamese — doqkhanh @ 1:57 AM


Cuốn “Triết lý ConAgra” được bắt đầu bằng lá thư của vị Giám đốc điều hành đáng kính Harper. Ông đã viết rằng, một trong những điều tìm thấy trong cuốn sách là chỉ dẫn cách xây dựng công ty của chúng ta ngày một lớn hơn. Ông cũng đưa ra những mục tiêu rõ ràng rằng, công ty quyết tâm giành được vị thế và sức mạnh bằng việc đạt được những lợi nhuận lớn cho công ty cũng như cho những cổ đông. Để thực hiện được mục tiêu này, ông cũng chỉ ra những công việc cần thiết mà tất cả công ty phải làm, những sản phẩm thế mạnh mà công ty cần nắm. Ông cũng khẳng định, sự thành công hay lớn mạnh của công ty đến từ linh động, cải tiến thị trường, thúc đẩy kinh doanh, phát triển những kế hoạch giảm giá sản phẩm để cạnh tranh với các công ty khác, và cuối cùng là cần phải có kỹ năng quản lý tài chính tốt.

Cùng với những mục tiêu, giải pháp phát triển cho công ty đề cập trong cuốn “triết lý,” nó còn đề cập đến mục “môi trường tổ chức,” theo Harper, phát triển sức mạnh môi trường là một nhiệm vụ quan trong mà tất cả những người trong ban lãnh đạo phải thi hành. Ông đã nói, “Mục tiêu xây dựng môi trường văn hoá là thúc đẩy đạt được mục tiêu với chất lượng cao, và phải có mối quan hệ hợp tác giữa những người lãnh đạo và cấp dưới.” Đặc biệt, ông đề cao quyền tự do hành động, và chịu trách nhiệm trước kết quả đã làm. Từ điểm này ông đã đề ra bốn điểm:
1.Tất cả mọi người đều muốn tham gia làm việc, đóng góp.
2. Hầu hết mọi người đều muốn trở thành một phần đóng góp của công việc.
3. Hầu hết mọi người đếu hướng tới mục tiêu và phấn đấu giành được mục tiêu đó.
4. Hầu hết mọi người đều muốn được công nhận, được cảm giác có trách nhiệm và được tự do bày tỏ những gì họ muốn.

Copyright: Đinh Việt Hoà

September 25, 2008

So sánh Công ty TNHH và Công ty Cổ phần

Filed under: Vietnamese — doqkhanh @ 10:00 AM

Trong Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005:

* Các quy định về Công ty TNHH được đề cập trong Chương III, từ điều 38 đến điều 76.
* Các quy định về Công ty Cổ phần được đề cập trong Chương IV, từ điều 77 đến điều 129.

Để có thông tin chi tiết bạn có thể xem những thông tin này trong luật được đính kèm. Tôi cũng sưu tầm một số thông tin so sánh dưới đây để bạn tham khảo:

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH):

Là doanh nghiệp, trong đó các thành viên cùng góp vốn cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty.

Đặc điểm:

* Công ty TNHH có hai thành viên trở lên, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp, nhưng không quá 50 thành viên.
* Phần vốn góp của tất cả các thành viên dưới bất kỳ hình thức nào đều phải đóng đủ ngay khi thành lập công ty.

Phần vốn góp của các thành viên không được thể hiện dưới hình thức chứng khoán (như cổ phiếu trong công ty cổ phần) và được ghi rõ trong điều lệ của công ty.

* Công ty TNHH không được phát hành cổ phiếu ra ngoài công chúng để huy động vốn. Do đó khả năng tăng vốn của công ty rất hạn chế.
* Việc chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty bị hạn chế gắt gao. Việc chuyển nhượng vốn chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty.

Trên mọi giấy tờ giao dịch, ngoài tên công ty, vốn điều lệ của công ty phải ghi rõ các chữ “Trách nhiệm hữu hạn”, viết tắt “TNHH”.

Cơ cấu quản lý thường gọn nhẹ phụ thuộc vào số lượng thành viên. Nếu công ty có từ 11 thành viên trở xuống cơ cấu tổ chức quản trị gồm có hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất, Chủ tịch công ty và giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) điều hành.

Trường hợp công ty TNHH một thành viên là tổ chức, là doanh nghiệp do một tổ chức sở hữu – gọi tắt là chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khỏan nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Đối với loại công ty này thì không thành lập hội đồng thành viên. Tùy thuộc quy mô, ngành, nghề kinh doanh cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm: Hội đồng quản trị và giám đốc (Tổng giám đốc) hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc (Tổng giám đốc), trong đó Chủ tịch là chủ sở hữu công ty và là người đại diện theo pháp luật của công ty, có toàn quyền quyết định việc quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

Đối với công ty có 12 thành viên trở lên phải lập thêm ban kiểm soát.

­Thuận lợi và khó khăn của công ty TNHH

Thuận lợi:

* Có nhiều chủ sở hữu hơn doanh nghiệp tư nhân (DNTN) nên có thể có nhiều vốn hơn, do vậy có vị thế tài chính tạo khả năng tăng trưởng cho doanh nghiệp.
* Khả năng quản lý toàn diện do có nhiều người hơn để tham gia điều hành công việc kinh doanh, các thành viên vốn có trình độ kiến thức khác nhau, họ có thể bổ sung cho nhau về các kỹ năng quản trị.
* Trách nhiệm pháp lý hữu hạn.

Khó khăn:

* Khó khăn về kiểm soát: Mỗi thành viên đều phải chịu trách nhiệm đối với các quyết định của bất cứ thành viên nào trong công ty. Tất cả các hoạt động dưới danh nghĩa công ty của một thành viên bất kỳ đều có sự ràng buộc với các thành viên khác mặc dù họ không được biết trước. Do đó, sự hiểu biết và mối quan hệ thân thiện giữa các thành viên là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết, bởi sự ủy quyền giữa các thành viên mang tính mặc nhiên và có phạm vi rất rộng lớn
* Thiếu bền vững và ổn định, chỉ cần một thành viên gặp rủi ro hay có suy nghĩ không phù hợp là công ty có thể không còn tồn tại nữa; tất cả các hoạt động kinh doanh dễ bị đình chỉ. Sau đó nếu muốn thì bắt đầu công việc kinh doanh mới, có thể có hay không cần một công ty TNHH khác.
* Công ty TNHH còn có bất lợi hơn so với DNTN về những điểm như phải chia lợi nhuận, khó giữ bí mật kinh doanh và có rủi ro chọn phải những thành viên bất tài và không trung thực.

Công ty cổ phần:

Công ty cổ phần là công ty trong đó:

* Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là ba.
* Vốn cuả công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và được thể hiện dưới hình thức chứng khoán là cổ phiếu. Người có cổ phiếu gọi là cổ đông tức là thành viên công ty.
* Khi thành lập các sáng lập viên (những người có sáng kiến thành lập công ty chỉ cần phải ký 20% số cổ phiếu dự tính phát hành), số còn lại họ có thể công khai gọi vốn từ những người khác.
* Công ty cổ phần được phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra ngoài công chúng, do đó khả năng tăng vốn của công ty rất lớn.
* Khả năng chuyển nhượng vốn của các cổ đông dễ dàng. Họ có thể bán cổ phiếu của mình một cách tự do.
* Công ty cổ phần thường có đông thành viên (cổ đông) vì nó được phát hành cổ phiếu, ai mua cổ phiếu sẽ trở thành cổ đông.

­Tổ chức quản lý công ty cổ phần:

Công ty cổ phần là loại công ty thông thường có rất nhiều thành viên và việc tổ chức quản lý rất phức tạp, do đó phải có một cơ chế quản lý chặt chẽ. Việc quản lý điều hành công ty cổ phần được đặt dưới quyền của ba cơ quan:

* Đại hội đồng cổ đông;
* Hội đồng quản trị;
* Ban kiểm soát .

Đại hội đồng cổ đông:

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của công ty gồm tất cả các cổ đông. Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia đại hội đồng công ty. Là cơ quan tập thể, đại hội đồng không làm việc thường xuyên mà chỉ tồn tại trong thời gian họp và chỉ ra quyết định khi đã được các cổ đông thảo luận và biểu quyết tán thành.

Đại hội đồng cổ đông được triệu tập để thành lập công ty. Luật không quy định Đại hội đồng cổ đông phải họp trước hay sau khi có giấy phép thành lập nhưng phải tiến hành trước khi đăng ký kinh doanh. Đại hội đồng thành lập hợp lệ phải có nhóm cổ đông đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty và biểu quyết theo đa số phiếu quá bán.

* Đại hội đồng bất thường: là đại hội chỉ được triệu tập để sửa đổi điều lệ công ty. Tính bất thường của Đại hội nói lên rằng đại hội sẽ quyết định những vấn đề rất quan trọng.
* Đại hội đồng thường niên: được tổ chức hàng năm. Đại hội đồng thường niên quyết định những vấn đề chủ yếu sau:
o Quyết định phương hướng, nhiệm vụ phát triển công ty và kế hoạch kinh doanh hàng năm.
o Thảo luận và thông qua bản tổng kết năm tài chính.
o Bầu, bãi miễn thành viên HĐQT và kiểm soát viên.
o Quyết định số lợi nhuận trích lập các quỹ của công ty số lợi nhuận chia cho cổ đông, phân chia trách nhiệm về các thiệt hại xảy ra đối với công ty trong kinh doanh.
o Quyết định các giải pháp lớn về tài chính công ty.
o Xem xét sai phạm của HĐQT gây thiệt hại cho công ty.

Hội đồng quản trị (HĐQT)

HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có từ 3-12 thành viên, số lượng cụ thể được ghi trong điều lệ công ty.

HĐQT có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng. HĐQT bầu một người làm chủ tịch, chủ tịch HĐQT có thể kiêm Giám đốc (Tổng giám đốc công ty) hoặc HĐQT cử một người trong số họ làm Giám đốc hoặc thuê người làm Giám đốc công ty.

Ban kiểm soát :

Công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có ban kiểm soát từ ba đến năm thành viên.

Kiểm soát viên thay mặt các cổ đông kiểm soát các hoạt động của công ty, chủ yếu là các vấn đề tài chính. Vì vậy phải có ít nhất một kiểm soát viên có trình độ chuyên môn về kế toán. Kiểm soát viên có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

* Kiểm soát sổ sách kế toán tài sản, các bảng tổng kế năm tài chính của công ty và triệu tập Đại hội đồng khi cần thiết;
* Trình Đại hội đồng báo cáo thẩm tra các bảng tổng kết năm tài chính cuả công ty;
* Báo cáo về sự kiện tài chính bất thường xảy ra về những ưu khuyết điểm trong quản lý tài chính cuả HĐQT.

Các kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng và không được kiêm nhiệm là thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc là người có liên quan trực hệ ba đời với họ.

Như vậy tổ chức công ty có sự phân công các chức năng cụ thể cho từng cơ quan khác nhau, giám sát lẫn nhau trong mọi công việc.

Thuận lợi khó khăn của công ty cổ phần

Thuận lợi:

* Trách nhiệm pháp lý có giới hạn: trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn ở số tiền đầu tư của họ.
* Công ty cổ phần có thể tồn tại ổn định và lâu bền
* Tính chất ổn định, lâu bền, sự thừa nhận hợp pháp, khả năng chuyển nhượng các cổ phần và trách nhiệm hữu hạn, tất cả cộng lại, có nghĩa là nhà đầu tư có thể đầu tư mà không sợ gây nguy hiểm cho những tài sản cá nhân khác và có sự đảm bảo trong một chừng mực nào đo giá trị vốn đầu tư sẽ tăng lên sau mỗi năm. Điều này đã tạo khả năng cho hầu hết các công ty cổ phần tăng vốn tương đối dễ dàng.
* Được chuyển nhượng quyền sở hữu: Các cổ phần hay quyền sở hữu công ty có thể được chuyển nhượng dễ dàng, chúng được ghi vào danh mục chuyển nhượng tại Sở giao dịch chứng khoán và có thể mua hay bán trong các phiên mở cửa một cách nhanh chóng. Vì vậy, các cổ đông có thể duy trì tính thanh khoản của cổ phiếu và có thể chuyển nhượng các cổ phiếu một cách thuận tiện khi họ cần tiền mặt.

Khó khăn:

* Công ty cổ phần phải chấp hành các chế độ kiểm tra và báo cáo chặt chẽ.
* Khó giữ bí mật: vì lợi nhuận của các cổ đông và để thu hút các nhà đầu tư tiềm tàng, công ty thường phải tiết lộ những tin tức tài chính quan trọng, những thông tin này có thể bị đối thủ cạnh tranh khai thác.
* Phía các cổ đông thường thiếu quan tâm đúng mức, rất nhiều cổ đông chỉ lo nghĩ đến lãi cổ phần hàng năm và ít hay không quan tâm đến công việc của công ty. Sự quan tâm đến lãi cổ phần này đã làm cho một số ban lãnh đạo chỉ nghĩ đến mục tiêu trước mắt chứ không phải thành đạt lâu dài. Với nhiệm kỳ hữu hạn, ban lãnh đạo có thể chỉ muốn bảo toàn hay tăng lãi cổ phần để nâng cao uy tín của bản thân mình.
* Công ty cổ phần bị đánh thuế hai lần. Lần thứ nhất thuế đánh vào công ty. Sau đó, khi lợi nhuận được chia, nó lại phải chịu thuế đánh vào thu nhập cá nhân của từng cổ đông.

Copy từ: http://www.saga.vn/Hoidap_KT/2401.saga

Mặc dù Công ty TNHH có 2 loại: một là Công ty TNHH một thành viên (do 1 cá nhân hay 1 tổ chức là chủ sở hữu duy nhất) và công ty TNHH từ 2 đến 50 thành viên nhưng có lẽ để so sánh với công ty CP tôi chỉ sử dụng Công ty TNHH 2 đến 50 thành viên vì như vậy sự so sánh dễ dàng hơn vì khi đó cả hai (Công ty TNHH và Công ty CP) đều có hơn 1 sở hữu.

1) Về tính trách nhiệm hữu hạn:
Công ty TNHH hay Công ty CP thì chủ sở hữu đều có trách nhiệm hữu hạn, đối với Công ty TNHH thì đó là phần vốn cam kết góp vào vốn điều lệ của công ty, đối với Công ty CP thì đó là số cổ phần sẽ mua. Như vậy về trách nhiệm hữu hạn thì Công ty TNHH và Công ty CP là giống nhau.

2) Về cơ cấu tổ chức, quyền quản lý, tỷ lệ thông qua quyết định:

a) Công ty TNHH:

Về cơ cấu tổ chức ((Điều 46), Công ty TNHH phải có Hội đồng thành viên (gồm tất cả thành viên góp vốn), Giám đốc. Nếu Công ty có từ 11 thành viên trở lên thì phải có Ban kiểm sóat, còn nếu số thành viên từ 2 đến 10 thì việc lập Ban kiểm sóat là không bắt buộc. Luật Doanh nghiệp không quy định các Thành viên được chia làm các “loại” khác nhau (sẽ được nêu thêm dưới đây).

Về quyền quyết định/ quản lý trong Công ty TNHH được chia làm 02 nhóm chính:

Quyền thuộc về Hội đồng thành viên: Hội đồng thành viên quyết định về một số vấn đề quan trọng của Công ty (Điều 47, Luật Doanh nghiệp), ví dụ: kế hoạch kinh doanh hàng năm, hợp đồng bán tài sản có giá trị từ 50% tổng giá trị tài sản của Công ty v.v.

Quyền thuộc về Giám đốc (Điều 55): Giám đốc là người điều hành công việc hàng ngày của Công ty, ký kết hợp đồng nhân danh Công ty v.v.

b) Công ty CP:

Về cơ cấu tổ chức, Công ty CP phải có Đại hội đồng (gồm tất cả các cổ đông), Hội đồng Quản trị, Giám đốc, và Ban kiểm soát (Công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty thì phải có Ban kiểm soát).

So sánh cơ cấu tổ chức Công ty CP với Công ty TNHH thì chúng ta thấy:

+ “Đại hội đồng cổ đông” tương tự như “Hội đồng thành viên”;

+ Giám đốc thì cả hai đều tương tự như nhau nhưng Giám đốc của Công ty CP thì không được đồng thời làm giám đốc doanh nghịêp khác (Điều 116.2) còn Giám đốc Công ty TNHH thì lại được làm việc này;

+ Ban kiểm soát thì cũng tương tự như Công ty TNHH (khác biệt nhỏ: Công ty TNHH bắt buộc phải có nếu có từ 11 thành viên, Công ty CP bắt buộc phải có nếu có trên 11 cổ đông cá nhân hoặc 1 cổ đông tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần Công ty).

+ Điểm khác biệt chính là nằm ở chỗ Công ty TNHH chỉ có “một lọai” thành viên còn Công ty CP lại có thể có “nhiều lọai cổ đông”, ngoài ra Công ty CP luôn luôn có Hội đồng quản trị còn Công ty TNHH thì không có Hội đồng quản trị.

Về các lọai cổ đông khác nhau: Luật Doanh nghiệp cho phép Công ty CP có nhiều “loại cổ đông khác nhau”, nhưng có thể xếp vào 2 nhóm chính, đó là cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi. Cổ đông phổ thông là cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông. Cổ đông ưu đãi là cổ đông sở hữu các loại cổ phần ưu đãi. Luật Doanh nghịêp quy định 3 loại cổ phần ưu đãi, đó là cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp cũng cho phép Công ty CP tự quy định thêm các loại cổ phần ưu đãi khác. Sau đây là đặc điểm của 3 loại cổ phần ưu đãi có quy định trong Luật Doanh nghiệp:

Cổ phần ưu đãi cổ tức thì được ưu đãi hơn cổ phần phổ thông về việc nhận cổ tức (cao hơn cổ phần phổ thông hoặc theo mức ổn định hàng năm). Cổ phần ưu đãi hoàn lại thì được ưu đãi hơn cổ phần phổ thông về việc được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại. Cả hai loại cổ phần “ưu đãi” này đổi lại phải chịu một hạn chế rất quan trọng, đó là “không có quyền biểu quyết, không có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông, không được đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát”

Cổ phần ưu đãi biểu quyết có ưu đãi là có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông và nhiều hơn bao nhiêu thì phài được quy định trong Điều lệ Công ty CP. Cổ phần ưu đãi biểu quyết chỉ dành cho 2 đối tượng, đó là: tổ chức do Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập. Tuy nhiên, đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết dành cho cổ đông sáng lập thì cổ phần này chỉ có hiệu lực trong vòng 3 năm kể từ ngày Công ty CP được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, sau 3 năm này thì cổ phần ưu đãi biểu quyết (của cổ đông sáng lập) phải chuyển thành cổ phần phổ thông. Như vậy sau 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty CP thì chỉ có tổ chức do Chính phủ ủy quyền là có thể còn nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết.

Về Hội đồng quản trị: Số lượng thành viên tối thiểu là 3 và tối đa là 11 (Điều 109.2, Luật Doanh nghiệp), do Đại hội đồng cổ đông bầu ra. Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của Công ty CP và quyết định nhiều vấn đề quan trọng trong hoạt động của Công ty (Điều 108.2, Luật Doanh nghịêp): kế hoạch kinh doanh hàng năm, giá chào bán cổ phần, bổ nhiệm/ miễn nhiệm Giám đốc v.v.

Có một quy định mới trong Luật Doanh nghiệp 2005 về việc Bầu HĐQT và Ban Kiểm soát trong Công ty CP được tiến hành theo nguyên tắc bầu dồn phiếu (Điều 104.3.c). Sau đây là một ví dụ (tôi trích dẫn từ trả lời của Tổ Công tác hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghịêp trên website http://www.vnep.org.vn/ trước khi Việt Nam gia nhập WTO):

1. Số phiếu bầu và việc dồn phiếu

Tổng số phiếu biểu quyết của mỗi cổ đông được tính bằng số cổ phần họ sở hữu X (nhân) với số thành viên HĐQT hoặc BKS dự kiến bầu. Ví dụ, cổ đông A sở hữu 20 cổ phần có quyền biểu quyết; ĐHĐCĐ dự định bầu 5 thành viên HĐQT; thì cổ đông A sẽ có 20×5=100 phiếu biểu quyết. Cổ đông có thể dùng tòan bộ số phiếu biểu quyết này để bầu cho 1 ứng cử viên; hoặc chia đều cho các ứng cử viên; hoặc bầu cho các ứng cử viên với số phiếu khác nhau.

2. Cách xác định thành viên trúng cử

Người trúng cử TV HĐQT phải có số phiếu bầu ít nhất bằng 65% tổng số cổ phần dự họp. cách tính là lấy số phiếu bầu làm tỷ số và tổng số cổ phần của tất cả cổ đông dự họp làm mẫu số; ứng cử viên đạt tỷ lệ từ 65% trở lên sẽ trúng cử (Bổ sung thêm của người viết: Trả lời này được đưa ra trước khi Việt Nam gia nhập WTO, nếu theo quy định về tỷ lệ thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo cam kết gia nhập WTO thì tỷ lệ này hiện nay chỉ cần là 51% với điều kiện Điều lệ của Công ty CP phải quy định như vậy).

trường hợp số trúng cử thấp hơn số dự định bầu, nhưng không ít hơn 3 thì chỉ gồm những người đã trúng cử; trường hợp số trúng cử ít hơn 3 thì bầu lại hoặc bầu bổ sung.

c) Tỷ lệ thông qua quyết định của Hội đồng thành viên (Công ty TNHH) và Đại hội đồng cổ đông (Công ty CP):

Trước khi Việt Nam gia nhập WTO thì các quyết định của Hội đồng thành viên (Công ty TNHH) và Đại hội đồng cổ đông (Công ty CP) được thông qua theo phần vốn góp (Công ty TNHH) hoặc cổ đông có quyền biểu quyết (Công ty CP) theo hai mức tối thiểu là 65% hoặc 75% (tất nhiên Điều lệ của Công ty có thể quy định mức cao hơn).

Tuy nhiên, theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam (đoạn 503 và 504 của Báo cáo Ban công tác) thì tỉ lệ đa số phiếu cần thiết 51% là đủ để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông. Có nghĩa là hiện nay Điều lệ Công ty TNHH và Công ty CP có thể quy định việc thông qua tất cả quyết định với tỷ lệ đa số 51%. Đây là một điểm mới ít được đề cập hoặc giải thích rõ ràng.

3) Về vốn điều lệ và chuyển nhượng vốn:

Vốn Điều lệ của Công ty TNHH phải được góp đủ bởi tất cả các thành viên, còn đối với Công ty CP thì cổ đông sáng lập đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày (Điều 84.1, Luật Doanh nghịêp). Phần vốn còn lại (giữa vốn điều lệ Công ty CP và vốn do cổ đông sáng lập góp) phải được phát hành hết trong vòng 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Điều 84.4, Luật Doanh nghiệp). Như vậy có thể hiểu vốn điều lệ của Công ty CP có thể góp đủ trong vòng 3 năm kể từ ngày được cấp đăng ký kinh doanh.

Trong Công ty TNHH, khi muốn chuyển nhượng vốn của mình, một thành viên phải ưu tiên chuyển nhượng cho các thành viên còn lại của Công ty TNHH trước, sau đó mới được chuyển cho các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên (Điều 44, Luật Doanh nghiệp) còn trong Công ty CP thì nói chung không có hạn chế này, cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần cho bất cứ người nào trừ cổ đông sáng lập thì chịu hạn chế phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% tổng số cổ phần có quyền chào bán trong 3 năm đầu (Điều 84.5, Luật Doanh nghiệp) và cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết thì không được chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết cho người khác (Điều 81.3, Luật Doanh nghiệp).

4) Về Công bố thông tin:

Công ty CP có yêu cầu công bố thông tin cao hơn so với Công ty TNHH. Theo Điều 129.3, Luật Doanh nghiệp thì “Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền xem hoặc sao chép báo cáo tài chính hằng năm của công ty cổ phần tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền.” Tuy nhiên, trên thực tế tôi chưa thấy cơ quan đăng ký kinh doanh hướng dẫn thủ tục để thực hiện nội dung này và tôi không rõ cơ quan đăng ký kinh doanh có thực thi nghiêm ngặt quy định này hay chưa.

Góp ý một số nội dung của minhhoang:

“Việc chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty bị hạn chế gắt gao. Việc chuyển nhượng vốn chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty.”

“Đại hội đồng thành lập hợp lệ phải có nhóm cổ đông đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty và biểu quyết theo đa số phiếu quá bán.”

Như giải thích ở mục 2.c nêu trên, hiện nay chỉ cần tỷ lệ 51% là có thể triệu tập Họp Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông nếu Điều lệ Công ty có quy định như vậy.

“Công ty cổ phần bị đánh thuế hai lần. Lần thứ nhất thuế đánh vào công ty. Sau đó, khi lợi nhuận được chia, nó lại phải chịu thuế đánh vào thu nhập cá nhân của từng cổ đông.”

Theo quy định về thuế thu nhập cá nhân hiện nay thì, cổ tức (cùng với một số khoản như lãi tiết kiệm) được tạm thời không nằm trong thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Nói khác đi cổ tức không chịu thuế thu nhập cá nhân.

Copy từ: http://www.saga.vn/Hoidap_KT/2401.saga

Mô hình Kinh doanh

Filed under: Vietnamese — doqkhanh @ 9:58 AM

Mô hình Kinh doanh, Business Model là gì?

Khái niệm mô hình kinh doanh miêu tả một tầm rộng những mô hình bán hình thức và có hình thức do các liên doanh dùng để đại diện các khía cạnh khác nhau của doanh nghiệp, như là các quá trình hiện hành, các cấu trúc tổ chức, và những dự báo tài chính. Mặc dù thuật ngữ này có thể thế truy nguyên vào những năm của thập niên 1950, nó chỉ mới đạt được vị trí phổ biến trong những năm của thập niên 1990. Nhiều định nghĩa thân mật của thuật ngữ đó có thể tìm thấy trong tác phẩm kinh doanh được nhiều người ngưỡng mộ, ví dụ như định nghĩa sau đây:

“Một mô hình kinh doanh là một công cụ quan niệm chứa một bộ có nhiều phần tử và của các quan hệ của chúng và cho phép thể hiện luận lý doanh nghiệp của một công ty nào đó. Nó miêu tả giá trị khả năng chào hàng của một công ty trong một hoặc nhiều loại khách hàng và nó cũng miêu tả thuật kiến trúc của công ty và mạng lưới đối tác nó dùng để tạo lập, tiếp thị, và giao hàng giá trị nói trên và vốn liếng quan hệ, nhằm phát sinh các dòng doanh thu có khả năng lợi nhuận và chống đỡ, kéo dài được.”

Ostenwalder, Pigneur and Tucci (2005)

Đã có nhiều người ra nhiều cách định hình những mô hình kinh doanh, ví dụ như Chesbrough and Rosenbloom 2000; Hamel 2000; Linder and Cantrell 2000; Petrovic, Kittl và những người liên quan; Weill and Vitale 2001; Gordijn 2002; Afuah and Tucci 2003; Osterwalder 2004; Fetscherin & Knolmayer 2005. Cái nào cũng có các độ khác nhau của sự tương tự hoặc khác biệt. Mô hình do Osterwalder (2004) đưa ra tổng hợp những sự định hình khác biệt vào một mô hình tham khảo đơn độc có cơ sở dựa vào các sự tương tự của một tầm lớn gồm có nhiều mô hình. Sự định hình đó của tác giả miêu tả một mô hình kinh doanh rằng nó bao gồm chín viên gạch quan hệ nhau cho việc xây dựng mô hình kinh doanh. Một mô hình kinh doanh miêu tả những khía cạnh doanh nghiệp sau đây của một công ty:

  • Cơ sở – infrastructure (C)
  • Giao phẩm – offering (G)
  • Khách hàng – customers (K)
  • Tài chính – finances (T)
    Bốn khía cạnh này bao gồm chín viên gạch sau đây:

    • Năng lực nòng cốt – core capabilities (1C) Những năng lực tiềm tàng và các cơ sở khả năng tất yếu để thi hành một mô hình kinh doanh của công ty.
    • Mạng lưới đối tác – partner network (2C)
      Những liên minh kinh doanh bổ sung các khía cạnh khác của mô hình kinh doanh.
    • Cấu hình giao phẩm – value configuration (3C) Nhân tố căn bản làm cho một doanh nghiệp sinh hoa lợi chung cho doanh nghiệp và khách hàng của nó.
    • Đề xuất giao phẩm – value proposition (4G) Những sản phẩm và các dịch vụ một doanh nghiệp đưa ra.
    • Khách hàng đối tượng – target customer (5K) Giới tiêu thụ những sản phẩm và các dịch vụ của một doanh nghiệp.
    • Mạng lưới phân phối – distribution channel (6K) Phương tiện nhờ đó mà một công ty đem giao những sản phẩm và các dịch vụ tới khách hàng. Nó bao gồm cả việc tiếp thị lẫn chiến lược phân phối của công ty đó.
    • Quan hệ khách hàng – customer relationship (7K)

      Những liên kết một công ty thiết lập giữa chính nó và những thành phần khách hàng khác biệt của nó. Việc này liên quan tới một quá trình gọi là quản lý quan hệ khách hàng.

    • Cấu trúc chi phí – cost structure (8T) Một tài liệu cảm thông (document of understanding) của công ty cho biết những hậu quả tiền tệ của phương tiện được tận dụng trong mô hình kinh doanh.
    • Doanh thu toàn diện – revenue (9T) Văn bản cho biết cách công ty làm ra tiền qua một mớ cách dòng thu nhập khác nhau. Chín viên gạch xây dựng mô hình kinh doanh này thành lập một khuôn mẫu thiết kế mô hình kinh doanh cho phép các công ty diễn tả mô hình kinh doanh của họ.

      Hình trên có hai hàng bao gồm bốn khu vực, đó là bốn khía cạnh doanh nghiệp. Hàng dưới là cho khía cạnh T – Tài chính. Ba khu vực ở hàng trên theo thứ tự từ trái sang phải là ba khía cạnh doanh nghiệp: C – Cơ sở, G – Giao phẩm , và K – Khách hàng .

  • Copyright: http://cttmmd.wordpress.com/2007/07/12/business-model-la-gi/

    Blog at WordPress.com.