Bay Cao và Bay Xa – Fly High and Fly Far

April 28, 2009

Nữ hoàng đổi mới

Filed under: Business, Vietnamese — doqkhanh @ 12:16 PM
Được mệnh danh là “nhà máy ý tưởng” của Google hay Bà hoàng của đổi mới, nhiệm vụ của Marissa Mayer là đưa các dự án mới ra trình bày trước lãnh đạo công ty. Ở tuổi 30 là phó chủ tịch phụ trách phát triển sản phẩm của Google, đồng thời cũng là giảng viên của Stanford, Marissa đã có một buổi giảng 45 phút với sinh viên của trường này về 9 nguyên lý giúp Google đổi mới, bao gồm Slide tóm tắt trên Business Week.

1. Ý tưởng đến từ khắp nơi.
Google cho rằng mọi người đều cần đổi mới, thậm chí cả nhóm kế toán.

2. Chia sẻ mọi thứ bạn có thể.
Chia sẻ mọi thứ bạn biết như y tưởng, dự án, thông tin, thời hạn v.v.. trên mạng nội bộ của công ty

3. Bạn thật tài giỏi, còn chúng tôi tuyển dụng
Các sáng lập viên Larry Page và Serger Brin ủng hộ tuyển dụng. Họ đánh giá cao năng lực hơn so với kinh nghiệm.

4. Giấy phép cho việc theo đuổi ước mơ.
Bao gồm cả quyền, nguồn lực và điều kiện để thực hiện. Nhân viên Google có 1 ngày tự do trong tuần để theo đuổi dự án do mình tự lựa chọn. 20% các sản phẩm mới của Google đến từ các dự án này.

5. Đổi mới, chứ không phải hoàn hảo ngay lập tức.
Google công bố các sản phẩm rất sớm, từ khi chúng còn chưa hoàn thiện, sau đó nâng cấp chúng liên tục.

6. Số liệu không bao giờ định kiến.
Marissa không thích nghe cụm từ “tôi thích” mà muốn mọi người dùng các số đo.

7. Sáng tạo luôn yêu quý các ràng buộc.
Đọc bài viết dưới để hiểu rõ ý tưởng này

8. Người sử dụng trước, tiền sẽ đến sau.
Hãy cung cấp các sản phẩm, dịch vụ dễ sự dụng và dễ dàng yêu thích. Tiền sẽ tới sau.

9. Đừng từ bỏ một dự án mà hãy biến đổi chúng.
Mọi dự án đều có một cái gì đó có thể sử dụng lại được.

Dưới đây là đoạn phim Marissa giảng hoặc tải về ở đây (dài khoảng 45 phút).

Một bài khác về cách làm việc của Marissa.

Bản quyển : http://my.opera.com/iguru/blog/?startidx=60

April 23, 2009

Ra trường nên khởi nghiệp ngay?

Filed under: Business — doqkhanh @ 11:47 AM

Trích lời Anh Tống Quốc Trường, Tổng Giám đốc Tổng Cty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam

Vay vốn ngân hàng thường nguy hiểm và rủi ro đối với những doanh nghiệp mới. Ban đầu nên vay vốn của người thân, bạn bè trong tầm kiểm soát của mình. Khi hoạt động được một thời gian nhất định, tính toán được rủi ro, các bạn hãy tìm đến với các tổ chức tín dụng

Trích lời Anh Vũ Văn Tiền- Chủ tịch HĐQT Ngân hàng An Bình, kiêm Tổng Giám đốc Cty XNK Tổng hợp Hà Nội

Tôi nghĩ là nên (Sinh viên mới ra trường có nên khởi nghiệp ngay không?). Cách đây 20 năm, khi mới ra trường, chúng tôi đã bắt đầu khởi nghiệp”

Lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng

Filed under: Business, Vietnamese — doqkhanh @ 11:34 AM

Việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: (i) uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; (ii) khả năng huy động vốn; (iii) rủi ro đầu tư; (iv) tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; (v) tổ chức quản lý doanh nghiệp.

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Luật về tổ chức và thành lập doanh nghiệp ở Việt nam hiện có Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, luật Hợp tác xã, luật Các tổ chức tín dụng… Theo đó, Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp.

Vì vậy việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: (i) uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; (ii) khả năng huy động vốn; (iii) rủi ro đầu tư; (iv) tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; (v) tổ chức quản lý doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.

Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân và tính chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản nên mức độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp.

Công ty hợp danh

Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: (i) Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn; (i) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; (i) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp đăng ký kinh doanh và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn.

Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty; không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.

Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau. Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.

Loại hình công ty hợp danh mới chỉ được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 1999 nên trên thực tế loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến.

Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên

Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.

Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc. Công ty trách nhiệm hữu hạn có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát.

Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt nam hiện nay. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như: (i) do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn; (ii) số lượng thành viên công ty không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp; (iii) Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty. Tuy nhiên, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có những hạn chế nhất định như: (i) do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng; (ii) công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh; (iii) việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu.

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hình thức đặc biệt của công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.

Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu và không được giảm vốn điều lệ.

Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn đã góp vào công ty. Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn cho tổ chức hoặc cá nhân khác. Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận của công ty khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả.

Tùy thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc.

Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có đầy đủ các đặc thù của công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên trở lên. Điểm khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên trở lên là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất và thành viên này có thể là tổ chức hoặc cá nhân.

Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty.

Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: (i)Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; (ii)Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; (iii)Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập; (iv)Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.

Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát.

Lợi thế của công ty cổ phần là: (i) chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao; (ii) khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực, ngành nghề; (ii) cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty; (iv) khả năng huy động vốn của công ty cổ phầnrất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần; (v) việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần.

Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định như: (i) việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích; (ii) Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán.

Công ty nhà nước

Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà Nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước.

Công ty nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội; ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn; ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao; hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư.

Người có thẩm quyền ra quyết định thành lập mới công ty nhà nước là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Riêng đối với việc quyết định thành lập mới công ty nhà nước đặc biệt quan trọng, chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt, làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

Công ty nhà nước có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty mới được tiếp nhận vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn để đầu tư, xây dựng doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh; công ty được kinh doanh những ngành, nghề có điều kiện khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh ngành, nghề có điều kiện hoặc có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Công ty nhà nước được tổ chức quản lý theo mô hình có hoặc không có Hội đồng quản trị. Các tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập sau đây có Hội đồng quản trị: (i) Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập; (ii) Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước; (iii) Công ty nhà nước độc lập có quy mô vốn lớn giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác.

Hợp tác xã

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật hợp tác xã để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.

Hoạt động kinh doanh dưới hình thức hợp tác xã có nhiều lợi thế như: (i) có thể thu hút được đông đảo người lao động tham gia; (ii) việc quản lý hợp tác xã thực hiện trên nguyên tắc dân chủ và bình đẳng nên mọi xã viên đều bình đẳng trong việc tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của hợp tác xã không phân biệt nhiều vốn hay ít vốn; (iii) các xã viên tham gia hợp tác xã chỉ chịu trách nhiệm trước các hoạt động của hợp tác xã trong phạm vi vốn góp vào hợp tác xã. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh theo hình thức hợp tác xã cũng có những hạn chế nhất định, như không khuyến khích được người nhiều vốn, nhiều kinh nghiệm quản lý, kinh doanh tham gia hợp tác xã do nguyên tắc chia lợi nhuận kết hợp lợi ích của xã viên với sự phát triển của hợp tác xã; việc quản lý hợp tác xã phức tạp do số lượng xã viên đông; Sở hữu manh mún của các xã viên đối tài sản của mình làm hạn chế các quyết định của Hợp tác xã.

Doanh nghiệp liên doanh

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp. Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư.

Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án quy có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn, nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp thuận. Tỷ lệ góp vốn của bên hoặc các bên liên doanh nước ngoài do các bên liên doanh thoả thuận, nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh. Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công nghệ, thị trường, hiệu quả kinh doanh và các lợi ích kinh tế – xã hội khác của dự án, Cơ quan cấp giấy phép đầu tư có thể xem xét cho phép bên liên doanh nước ngoài có tỷ lệ góp vốn thấp hơn, nhưng không dưới 20% vốn pháp định.

Đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp liên doanh là có sự phối hợp cùng góp vốn đầu tư sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư Việt nam. Tỷ lệ góp vốn của mỗi bên sẽ quyết định tới mức độ tham gia quản lý doanh nghiệp, tỷ lệ lợi nhuận được hưởng cũng như rủi ro mỗi bên tham gia liên doanh phải gánh chịu.

Doanh nghiệp liên doanh là hình thức doanh nghiệp thực sự đem lại nhiều lợi thế cho cả nhà đầu tư việt nam và nhà đầu tư nước ngoài. Đối với các nhà đầu tư việt nam, khi tham gia doanh nghiệp liên doanh, ngoài việc tượng phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, nhà đầu tư việt nam còn có điều kiện tiếp cận với công nghệ hiện đại, phong cách và trình độ quản lý kinh tế tiên tiến. đối với bên nước ngoài, lợi thế được hưởng là được đảm bảo khả năng thành công cao hơn do môi trường kinh doanh, pháp lý hoàn toàn xa lạ nêu không có bên việt nam thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, hình thức doanh nghiệp liên doanh cũng có sự bất lợi là có sự ràng buộc chặt chẽ trong một pháp nhân chung giữa các bên hoàn toàn khác nhau không chỉ về ngôn ngữ mà còn về truyền thống, phong tục, tập quán, phong cách kinh doanh, do vậy có thể phát sinh những mâu thuẫn không dễ gì giải quyết.

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước đầu tư nước ngoài do Nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư.

Vốn pháp định của Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bán khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp nhận.

Ngoài các loại hình doanh nghiệp kể trên, còn một số loại hình doanh nghiệp đặc thù khác được thành lập và tổ chức theo luật chuyên ngành như văn phòng luật sư, công ty luật, ngân hàng, tổ chức tín dụng…

Bản quyền :  http://www.luatgiapham.com/tai-nguyen/doanh-nghip/202-lua-chon-hinh-thuc-doanh-nghiep.html

April 22, 2009

Quy định về việc gửi thư điện tử, tin nhắn quảng cáo

Filed under: Law, Vietnamese — doqkhanh @ 3:27 PM
? Doanh nghiệp chúng tôi có chức năng cung cấp dịch vụ quảng cáo cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu quảng cáo. Xin cho biết việc gửi thư điện tử, tin nhắn quảng cáo phải thực hiện như thế nào thì đúng luật và không bị coi là thư rác?

Trả lời: Ngày 13/8, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 90/2008/NĐ-CP về chống thư rác. Theo quy định của Nghị định 90, thư rác (spam) là thư điện tử, tin nhắn được gửi đến người nhận mà người nhận đó không mong muốn hoặc không có trách nhiệm phải tiếp nhận theo quy định của pháp luật. Thư rác trong Nghị định này bao gồm thư điện tử rác và tin nhắn rác.

Để việc gửi thư điện tử, tin nhắn quảng cáo được tiến hành đúng pháp luật và không bị coi là thư rác, cần chú ý một số quy định sau đây:

- Tổ chức, cá nhân ngoại trừ nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo (Nhà CCDVQC) chỉ được phép gửi thư điện tử quảng cáo, tin nhắn quảng cáo khi có sự đồng ý trước đó của người nhận.
- Nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo (CCDVQC) chỉ được phép gửi thư điện tử quảng cáo, tin nhắn quảng cáo cho đến khi người nhận từ chối việc tiếp tục nhận thư điện tử quảng cáo, tin nhắn quảng cáo.
- Trong vòng 24 giờ, kể từ khi nhận được yêu cầu từ chối, người quảng cáo hoặc nhà CCDVQC phải chấm đứt việc gửi đến người nhận các thư điện tử quảng cáo hay tin nhắn quảng cáo đã bị người nhận từ chối trước đó trừ trường hợp bất khả kháng.
- Nhà CCDVQC chỉ được phép gửi thư điện tử, tin nhắn quảng cáo từ hệ thống có các thông tin kỹ thuật đã đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông.
- Nhà CCDVQC bằng thư điện tử không được phép gửi quá 5 thư điện tử quảng cáo tới một địa chỉ thư điện tử trong vòng 24 giờ trừ trường hợp đã có thoả thuận khác với người nhận.
- Nhà CCDVQC bằng tin nhắn không được phép gửi quá 5 tin nhắn quảng cáo tới một số điện thoại trong vòng 24 giờ và chỉ được phép gửi trong khoảng thời gian từ 7h đến 22h mỗi ngày trừ trường hợp đã có thoả thuận khác với người nhận.

Khi thu thập, sử dụng địa chỉ điện tử cho mục đích quảng cáo, cần lưu ý:

- Chỉ được thu thập địa chỉ điện tử cho mục đích quảng cáo khi được sự đồng ý của người sở hữu địa chỉ điện tử đó;
- Phải nêu rõ mục đích, phạm vi sử dụng khi tiến hành thu thập địa chỉ điện tử và phải sử dụng địa chỉ thư điện tử theo đúng mục đích, phạm vi đã được người sở hữu địa chỉ đó cho phép.

Tên viết tắt của doanh nghiệp phải tuân theo quy định nào?

Filed under: Law, Vietnamese — doqkhanh @ 3:18 PM

? Công ty tôi là Công ty cổ phần chuyên kinh doanh, xuất nhập khẩu cà phê. Tên Công ty bằng tiếng nước ngoài được viết với khổ chữ lớn hơn tên Công ty bằng tiếng Việt. Vậy Công ty tôi viết tên như vậy có đúng không? Quy định tại điều nào? Văn bản Luật nào?

Trả lời: Căn cứ Điều 33- Luật Doanh nghiệp năm 2005, thì mọi loại hình doanh nghiệp khi viết bằng tiếng nước ngoài và tên viết tắt của doanh nghiệp phải tuân theo quy định sau:

1. Tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài là tên được dịch từ tên bằng tiếng Việt sang tiếng nước ngoài tương ứng. Khi dịch sang tiếng nước ngoài, tên riêng của doanh nghiệp có thể giữ nguyên hoặc dịch theo nghĩa tương ứng sang tiếng nước ngoài.
2. Tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên bằng tiếng Việt của doanh nghiệp tại cơ sở của doanh nghiệp hoặc trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành.

3. Tên viết tắt của doanh nghiệp được viết tắt từ tên bằng tiếng Việt hoặc tên viết bằng tiếng nước ngoài.

Như vậy, Công ty anh/chị viết tên Công ty bằng tiếng nước ngoài với khổ chữ lớn hơn tên công ty bằng tiếng Việt là không đúng.
Luật sư Phạm Hùng Thắng – Đoàn LS Thanh Hoá

April 20, 2009

Perl does not do any automatic dereferencing for you

Filed under: Other, Perl, Programming — Tags: , — doqkhanh @ 12:49 PM

No Automatic Dereferencing

Perl does not do any automatic dereferencing for you. You must explicitly dereference using the constructs just described. This is similar to C, in which you have to say *p to indicate the object pointed to by p. Consider

$rarray = \@array;

push ($rarray,  1, 2, 3);   # Error: $rarray is a scalar, not an array

push (@$rarray, 1, 2, 3);   # OK

push expects an array as the first argument, not a reference to an array (which is a scalar). Similarly, when printing an array, Perl does not automatically deference any references. Consider

print "$rarray, $rhash";

This prints

ARRAY(0xc70858), HASH(0xb75ce8)

This issue may seem benign but has ugly consequences in two cases. The first is when a reference is used in an arithmetic or conditional expression by mistake; for example, if you said $a += $r when you really meant to say $a += $$r, you’ll get only a hard-to-track bug. The second common mistake is assigning an array to a scalar ($a = @array) instead of the array reference ($a = \@array). Perl does not warn you in either case, and Murphy’s law being what it is, you will discover this problem only when you are giving a demo to a customer.

Copyright: http://oreilly.com/catalog/advperl/excerpt/ch01.html

Net Index 2009 do Yahoo và TNS Media Việt Nam công bố ngày 2/4/2009 tại TP.HCM

Filed under: Business — doqkhanh @ 9:44 AM

ông Vũ Minh Trí, tổng giám đốc Yahoo Việt Namdẫn số liệu của công ty nghiên cứu thị trường AC Nielsen:

Thị trường quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam hiện ở mức 2,81 triệu USD (2008) và sẽ là 7,8 triệu USD (2010), trong đó quảng cáo hiển thị chiếm đa số, quảng cáo theo từ khoá chiếm khoảng 10% tổng quảng cáo trực tuyến

và khẳng định:

Thị trường trực tuyến Việt Nam còn quá bé nhỏ. Vì thế, Yahoo muốn rằng khi tham gia vào thị trường này, Yahoo sẽ cùng các doanh nghiệp phát triển để nó ngày một lớn hơn mà không hề có ý định “chia sẻ” nó

bà Trần Thị Thanh Mai, tổng giám đốc công ty Truyền Thông TNS Vietnam:

Người dùng sẵn sàng trả một lượng tiền khá để sử dụng Internet. Nhân với số người sử dụng Internet tại Việt Nam (theo bộ TTTT là trên 20 triệu người), thị trường này rất lớn, nhiều nghìn tỷ đồng/tháng, hàng nhiều chục nghìn tỷ đồng/năm. Rõ ràng, quy mô của thị trường quảng cáo trực tuyến hiện là quá khiêm tốn.

Although shopping at traditional markets is still popular, in the near future the trend of shopping at modern supermarkets and trade centers will account for the most following the economic growth

Theo dòng sự kiện: (…)

Tham khảo:

1. http://idgvv.com.vn/?mdl=press&cat=27&id=257&pg=2
2. http://www.pcworld.com.vn/mobile/default.asp?artid=13625&chnlid=16

Phân tích rủi ro trong dự án đầu tư

Filed under: Business — doqkhanh @ 9:09 AM

Phân tích rủi ro của dự án là một phần quan trọng, có yếu tố quyết định đến thành công của dự án. Dự án đầu tư có rủi ro như thế nào ? Rủi ro nào là chấp nhận được ? Hãy cũng tham khảo !

Nguồn: http://santhuongmai.com/?content=sdownload&dlID=418

April 17, 2009

chuyển đổi chữ việt có dấu thành không dấu với PHP, MYSQL

Filed under: PHP — doqkhanh @ 8:10 AM

Rất nhiều tình huống phải chuyển chữ việt có dấu thành không dấu, sau đây xin chia sẻ với các bạn cách làm điều này trong PHP. Sử dụng hàm remove_accents là có thể giải quyết nhanh chóng:
<?php
function remove_accents( $str )
{
var $str = htmlentities($str);
return preg_replace(“/&([a-z])[a-z]+;/i”,”$1″,$str);
}
$str = “Xin chào, tôi là chữ Việt có dấu.”;
echo remove_accents( $str );
?>

Nếu chạy script này, sẽ in ra màn hình là:
Xin chao, toi la chu Viet co dau.

CREATE trigger video_before_insert before insert on video for each row
BEGIN

DECLARE done INT DEFAULT 0;
DECLARE counter INT DEFAULT 0;
DECLARE strInput VARCHAR(120);
DECLARE str_no_sign_title VARCHAR(120);
DECLARE cur_1 CURSOR FOR SELECT ("áa", "àa") ;
DECLARE CONTINUE HANDLER FOR NOT FOUND SET done = 1;
OPEN cur_1;
REPEAT
FETCH cur_1 INTO strInput;
                IF NOT done THEN
                        SET str_no_sign_title  = REPLACE(str_no_sign_title , SUBSTRING(strInput, 0,1), SUBSTRING(strInput, 1,1));
                END IF;
        UNTIL done END REPEAT;
 CLOSE cur_1;

   set new.no_sign_title = str_no_sign_title;

END

Happy codings !

April 16, 2009

Phát triển bền vững là đòi hỏi thiết yếu

Filed under: Business — doqkhanh @ 12:54 PM

Justin Wood, Giám đốc phụ trách Corporate Network tại Khu vực Đông Nam Á của Economist Intelligence Unit (nhà tổ chức các sự kiện cấp cao hàng đầu thế giới) cảnh báo:

Nếu không cải cách, Việt Nam sẽ chỉ là một đất nước với giá nhân công rẻ và nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Chúng ta đã thay đổi, từ “Đất nước ta giàu và đẹp” “nhiều tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản phong phú” tới “tài nguyên thiên nhiên hạn chế, đang cạn kiệt nhanh chóng”, thay đổi này thật đáng mừng. Tuy nhiên, không chỉ cần lời nói, chính phủ cần có các hành động quyết liệt hơn, giám sát chặt chẽ hơn việc thực hiện các luật, chương trình hành động nhằm mang lại sự phát triển bền vững cho đất nước.

Việt Nam sẽ là 1 Hàn Quốc với sự phát triển thần kì trong 2 thập niên, hay là một Indonesia sẽ mãi mãi trì trệ? Đây là câu hỏi mà ai cũng trăn trở, rằn vặt. Tuy nhiên, điều cần làm trước là chung tay xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, một xã hội văn minh, để không những sánh vai, mà còn phải vượt lên các cường quốc số 1 của thế giới.

Cạnh tranh mang tới sức mạnh cho thị trường

Filed under: Business — doqkhanh @ 12:31 PM

Trích từ bài phân tích cường độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành ngân hàng ở Việt Nam trên Thời Báo Sài Gòn

Trong năm 2008, McKinsey dự báo doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ở Việt Nam có thể tăng trưởng đến 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ cao nhất châu Á (*). Tuy khủng hoảng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác động xấu tới ngành ngân hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết, tiềm năng còn rất lớn. Ảnh hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến cho các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc cường độ cạnh tranh sẽ tăng lên. Nhưng khi khủng hoảng kinh tế qua đi, với một thị trường tiềm năng còn lớn như Việt Nam, các ngân hàng sẽ tập trung khai phá thị trường, tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến cường độ cạnh tranh có thể giảm đi.

Hi vọng là tốc độ tăng trưởng nhanh của nghành ngân hàng sẽ thúc đẩy tích cực quá trình hiện đại hóa cơ sở hạ tầng và dịch vụ cho các loại hình thanh toán trực tuyến và di động. Đồng thời với sự chuyển biến đó là sự thay đổi trong nhận thức của người dân về thanh toán không tiền mặt và sự thay đổi của chính phủ về luật bảo vệ sở hữu trí tuệ và nội dung số. Chỉ khi cả 3 mặt đó phát triển song song và mạnh thì thương mại điện tử và dịch vụ trực tuyến ở Việt Nam mới có thể bùng nổ.

April 15, 2009

how big advertisers and ad agencies put their sweet brands along with pirated content

Filed under: Business — doqkhanh @ 12:35 PM

If business model is advertising based, how big advertisers and ad agencies put their sweet brands along with pirated content. These are not truly UGC services rather a user submitted content USC. Self recording of video clips is not a habit of Vietnamese users now. An option of USC is to follow Digg. It is mutual benefit for both USC services and original content owners (OCO). If users are interested in the stories they would track to the original and both service get traffic increase. Many OCO embed Digg buttons to promote their services and advertisers are happy to put ads on these rights clear services.

Copyright: A jason’s quote

Why No Twitter Clone in Vietnam?

Filed under: Business — doqkhanh @ 12:28 PM

Vietnamese web startups like to clone social networking services (SNS) like Facebook, Myspace. It seems to be easy, cool and trendy. One of the most successful Web 2.0 services winning hearts and minds of bloggers worldwide, Twitter is not popular in Vietnam. Joining social networks as anonymous user is still common in Vietnam. Showing to others what are you doing means you have to show some true identity. To my guestimate there are about 3k – 5k of Twitter users in Vietnam. More than one year ago, Japanese Ascent Network launched its Twitter clone Haru dubbed Tictac (meaning every second in Vietnamese, truly good brand name). A micro blogging service with no widget feature, Tictac is in the Deadpool now. Twitter clones are not in good position in China also. Chinese Internet users can use Tencent’s QQ IM for their communication. To leverage its user base, Tencent launched a Twitter clone TaoTao, members can update from the Web and QQ only. Number of TaoTao users is far above other clones. Can Yahoo leverage its user base of Yahoo IM and Yahoo 360 in Vietnam to launch a micro blogging service since Tumblr is getting adoption fast among bloggers in Vietnam?

Copyright: Quote from jasonlog

April 13, 2009

Bảng Điểm Cân Bằng

Filed under: Business — doqkhanh @ 10:04 AM

balanced_scorecard

Tò mò

Balanced Scorecard được Robert Kaplan, trường Kinh doanh Havard và David Norton, sáng lập viên của công ty tư vấn CNTT khởi xướng vào những năm đầu của thập niên 1990. BSC là một công cụ đánh giá hiệu năng đầu tiên được tạo ra như một hình mẫu để định đo lường các hành động tác vụ ở phạm vi nhỏ trong 1 công ty chiếu theo các mục tiêu được đề cập tới trong tầm nhìn và chiến lược. Rộng hơn, BSC có một ý nghĩa như một công cụ cải tiến hoạt động trong toàn doanh nghiệp, một bộ phận hay một đội. Balanced Scorecard hỗ trợ việc đo lường và cải tiến hoạt động theo phương pháp tích hợp. Bằng việc nhận dạng những yếu tố chủ chốt góp phần vào sự thành công của doanh nghiệp, Balanced Scorecard giới hạn việc đo lường trong phạm vi những vấn đề thực sự cốt lõi.

Bản chất

“Balance-Cân bằng” có được nhờ vào sự liên kết giữa những tiêu chí đo lường,  BSC vẫn duy trì các phép đo tài chính, nhưng bổ sung thêm 3  khía cạnh rất rõ ràng khách hàng, các quá trình nội bộ và học hỏi và phát triển.

Balanced Scorecard chỉ là: Sự cân bằng, khi nó chưa thể là phương pháp đo lường “chính xác” chiến lược của bạn, giúp bạn giám sát và đo lường tất cả quá trình thực thi chiến lược.

Áp dụng

business-score-card-logic-how-to

Tham khảo

Mind Tool Document, Dịch bởi: Nguyễn Thị Diệu Linh, QuanTri.vn Translation team
Wikipedia http://en.wikipedia.org/wiki/Balanced_scorecard
An Image from http://www.thaicatholicbiz.com

Vietnam digital content industry : when? how?

Filed under: Law — doqkhanh @ 9:27 AM

3d-copyright-symbol
How can digital content industry develop in Vietnam. I really don’t know. In fact, as many industry in Vietnam, we have a lager market, we have law, we have government support, but we’ve still in a low level of development. The first question is why? Why we still in a low level? In this blog post, I am going to find it out and answer for above why question.

The first ideal is copyright protection in Vietnam. We have copyright law in the first time in April 1995 but we still have many job for done at this moment. Our digital content is not protected with current law and current protect method. We have 7000vnđ/0.4usd/cd-dvd software shop every where, anyone can get the latest movie with only 2000vnđ/0.11 USD/day.

We have illegal music site with illegal content for long time like nghenhac.info, chacha.vn etc… How they can exist?? They provide contents, but when they want to protect their own contents, they must get permission of the copyright holder and vessel.

April 10, 2009

By using flowing query, you can easily c…

Filed under: Vietnamese — doqkhanh @ 8:43 AM

By using flowing query, you can easily convert wordpress database from any character set and collate to utf-8 character set and unicode_ci collate :

ALTER TABLE `wp_options` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_postmeta` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_posts` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_ratings` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_terms` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_usermeta` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_users` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_term_relationships` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;
ALTER TABLE `wp_term_taxonomy` DEFAULT CHARACTER SET utf8 COLLATE utf8_unicode_ci;

Happy blogging !

April 9, 2009

Không chỉ còn là tiềm năng, mà đã là thời cơ

Filed under: Business, Vietnamese — doqkhanh @ 9:45 AM

Xin được trích dẫn:

Ông Vũ Minh Trí, Tổng giám đốc Yahoo! Việt Nam cho biết, theo kết quả nghiên cứu và khảo sát tháng 12/2008, chi phí bình quân cho việc sử dụng Internet (phí thuê bao) vào khoảng 174.000 đồng/người/tháng (tương đương 10 USD). Nếu tính tổng cộng cả nước, chi phí bình quân cho việc sử dụng Internet lên tới 600 tỷ đồng/tháng, tương đương 7.200 tỷ đồng năm 2008.

Tuy nhiên, tổng chi phí quảng cáo trên Internet năm 2008 ước tính chỉ đạt 2,81 triệu USD (dự báo năm 2010 tăng lên 7,8 triệu USD), chỉ bằng hơn 1,5% trên tổng chi phí quảng cáo trên mọi phương tiện năm 2008 tại Việt Nam. Vậy tại sao lại có tình trạng số người sử dụng Internet tăng rất nhanh trong khi tốc độ tăng quảng cáo trên Internet tăng chậm hơn rất nhiều?

Chi tiết tại:
http://vneconomy.vn/20090405074018168P0C16/thoi-gian-binh-quan-dung-internet-da-tang-gap-doi.htm

April 6, 2009

3G và những con số

Filed under: Business — doqkhanh @ 8:09 AM

Thống kê

3G-293-HSPA

3G trên thế có 6 chuẩn nhưng phổ biến nhất là 3 chuẩn HSPA, WCDMA và EV-DO. Một thống kê của Lehman Brothers cho biết hiện có 293 nhà khai thác mạng 3G trên toàn thế giới – trong đó 185 sử dụng công nghệ HSPA; 26 sử dụng WCDMA và 82 dựa vào mạng EV-DO. Lehman Brothers cũng dự đoán trong vòng 2 năm tới (2010) nhiều mạng WCDMA sẽ nâng cấp thành HSPA khi các nhà khai thác này cần tăng tốc độ truy cập cho người sử dụng.

1.2 tỷ

Ericsson dự báo thị trường 3G ở năm sẽ có doanh thu 1,2 tỷ dollar trong 4 năm đầu tiên.

7-2005

7 năm triển khai 3G đầu tiên tại Nhật, năm 2001, số lượng thuê bao 3G trên toàn cầu chỉ tăng đáng kể vào cuối năm 2005, đạt khoảng 500 triệu thuê bao. Malaysia triển khai 3G vào cuối năm 2005. Vào tháng 08 năm 2006, 7 tháng sau khi triển khai, Malaysia có 61.000 thuê bao 3G và đến tháng 3 năm 2008, đạt 250.000 thuê bao. Trong khi đó, Indonesia triển khai 3G sớm hơn Malaysia gần 2 năm – đầu năm 2004 – nhưng hiện chỉ có 90.000 thuê bao 3G.

74%-67%

Một cuộc điều tra thị trường do Ericsson thực hiện về thị trường 3G tại VN cho thấy 74% người được hỏi cho là giá máy điện thoại 3G vẫn còn quá sức đối với họ. Trong khi đó, 67% e ngại về giá dịch vụ 3G.

20%

Chỉ khoảng 20% dân số thành thị có khả năng chi trả cho thiết bị và dịch vụ 3G.

Thực tế

966.67-563.91-345-430.65-271.50-268.66

Kết quả thi tuyển, Viettel trở thành “thí sinh” có số điểm cao nhất: 966,67 điểm trên thang điểm 1.000, “bỏ xa” nhà mạng giành “tấm vé 3G” thứ hai tới hơn 345 điểm là VinaPhone (đạt 620,96 điểm). Doanh nghiệp di động đứng thứ ba là MobiFone đạt 563,91 điểm. Và “tấm vé” cuối cùng đã thuộc về liên danh EVN Telecom-Hanoi Telecom với số điểm là 430,65 điểm. Hai doanh nghiệp không giành “tấm vé 3G” là Gtel (271,50 điểm) và SPT (268,66 điểm).

2 tỷ USD

Tổng số tiền cam kết đầu tư triển khai trong ba năm đầu của bốn đơn vị trúng tuyển là 33,8 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng gần 2 tỷ USD).

8100 tỷ – 30.000 trạm

Số tiền tiền cam kết đặt cọc của bốn doanh nghiệp này là 8.100 tỷ đồng, với số trạm BTS cam kết sẽ lắp đặt khoảng 30.000 trạm, tương đương với số trạm hiện có của 2G.

86%-48%

Về diện phủ sóng, doanh nghiệp cam kết diện phủ sóng cao nhất là 86% dân số, doanh nghiệp thấp nhất là 46% dân số.

1500 tỷ

Số tiền đặt cọc của VinaPhone là 1.500 tỷ đồng

100%/63-98%-3 năm

Mạng MobiFone cũng cam kết sẽ phủ sóng 3G tới 100% đô thị thuộc 63 tỉnh thành trên cả nước sau khi được cấp phép, và phủ sóng 3G 98% dân số trong 3 năm sau đó.

12.789 tỷ

Số tiền đầu tư trong ba năm đầu để xây dựng hạ tầng 3G của Viettel là 12.789 tỷ đồng và đơn vị này sẽ triển khai phủ sóng 3G trên 86% dân số ngay sau khi được cấp phép. với khoản tiền cam kết trên, Viettel là doanh nghiệp có số tiền cam kết đầu tư lớn nhất trong ba năm đầu, gấp 1,5 lần so với doanh nghiệp cam kết đứng thứ hai là VinaPhone (9.556 tỷ đồng). Đặc biệt, Viettel cũng trở thành mạng có số tiền đặt cọc cao nhất, với 4.500 tỷ đồng, gấp 3 lần tiền đặt cọc của MobiFone và VinaPhone.



Một số ý kiến bên lề hội nghị Vietnam Telecomp 2008 cho rằng dự đoán của Ericsson về doanh thu trong 4 năm đầu khai thác 3G tại VN có thể là hơi lạc quan. Tuy nhiên, họ không phủ nhận việc triển khai 3G sẽ tạo công ăn việc làm cho nhiều công ty cung cấp nội dung và đẩy nhanh sự phát triển về chất lượng của công nghệ truyền hình di động.

April 5, 2009

Hầu hết các doanh nhân thành đạt đều có những phẩm chất cá nhân nhất định

Filed under: Business — doqkhanh @ 8:24 PM

Kết quả nghiên cứu của “Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ“  cho thấy: hầu hết các doanh nhân thành đạt đều có những phẩm chất cá nhân nhất định, đó là: tính sáng tạo, tính chăm chỉ, lòng quyết tâm, tính linh hoạt, khả năng lãnh đạo, lòng say mê, tính tự tin và ‘thông minh’.

  • Tính sáng tạo: là tia lửa tạo ra sự phát triển đối với các sản phẩm và dịch vụ mới hoặc đưa tới các cách thức kinh doanh. Đây chính là động lực của sự cải tiến và đổi mới. Nó khiến người ta không ngừng học tập, suy nghĩ sáng tạo ngoài những gì đã được tạo ra.
  • Tính chăm chỉ: là điều khiến nhà doanh nghiệp làm việc cần mẫn, 12 giờ/ngày hoặc nhiều hơn, thậm chí làm việc cả 7 ngày trong tuần, đặc biệt là từ khi khởi đầu đến khi hết sức lực của một ngày làm việc. Việc lập kế hoạch và các ý tưởng phải được tập trung cao độ nhằm đạt kết quả. Sự chăm chỉ khiến người ta đạt được điều này.
  • Lòng quyết tâm: là mong muốn khát khao mạnh mẽ để đạt được thành công. Nó bao gồm sự kiên trì và khả năng đứng vững và vượt qua những lúc sóng gió. Nó khiến các nhà doanh nghiệp có thể gọi cuộc điện thoại thứ mười sau khi đã gọi chín cuộc điện thoại trước đó mà không có kết quả gì. Đối với một nhà doanh nghiệp đích thực, tiền không phải là động lực. Sự thành công là động lực, tiền là phần thưởng mà thôi.
  • Tính linh hoạt: là khả năng chuyển biến nhanh thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của thị trường. Nó là khả năng giữ cho những mơ ước không bị trở nên viển vông trong khi luôn ghi nhớ những thực tiễn trên thị trường. Có một câu chuyện về một nhà doanh nghiệp khởi nghiệp bằng một cửa hiệu rất sang trọng chỉ để bán bánh ngọt Pháp. Nhưng khách hàng cũng muốn mua cả bánh xốp nữa. Để tránh việc số khách hàng này rời bỏ cửa hàng mình, nhà doanh nghiệp này đã thay đổi cách nhìn của mình bằng cách đáp ứng luôn cả nhu cầu về bánh xốp của khách hàng, níu kéo lượng khách hàng này.
  • Khả năng lãnh đạo: là khả năng tạo ra những quy tắc và thiết lập những mục tiêu. Nó cũng chính là khả năng đảm bảo rằng những quy tắc được tuân thủ và các mục tiêu sẽ đạt được.
  • Lòng say mê: là điều khiến cho nhà doanh nghiệp khởi đầu và giữ họ ở đó. Lòng say mê tạo cho các doanh nhân khả năng thuyết phục người khác tin vào những gì họ diễn đạt. Nó không thể thay thế cho việc lập kế hoạch, nhưng nó giúp họ tập trung và khiến người khác chú ý đến kế hoạch mà doanh nhân đó đề ra.
  • Tính tự tin: có được từ kế hoạch chu đáo, điều đó giúp loại trừ được những rủi ro không lường trước được. Tính tự tin có được từ sự tinh thông chuyên môn. Tự tin giúp nhà doanh nghiệp có được khả năng lắng nghe mà không bị dao động một cách dễ dàng hoặc cảm thấy sợ hãi.
  • “Thông minh” thường được hiểu gồm cả tư duy logíc kết hợp với hiểu biết hoặc kinh nghiệm trong một lĩnh vực hoặc nỗ lực kinh doanh có liên quan. Tư duy lôgíc đem lại cho người ta một bản năng tốt, còn hiểu biết và kinh nghiệm đem lại sự tinh thông nghề nghiệp. Nhiều người có trí thông minh nhưng chính họ cũng không nhận ra. Một người thành công trong quản lý ngân sách gia đình thường có kỹ năng tài chính và kỹ năng tổ chức. Kinh nghiệm trong cuộc sống, trong lao động và trong giáo dục là các yếu tố cấu thành nên “sự thông minh”.

Blog at WordPress.com.